50 năm thiên anh hùng ca giải phóng | Vũ Kim Yến
79 câu hỏi - đáp thời niên thiếu của Bác

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:04' 22-09-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:04' 22-09-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
79 CÂU HỎI ĐÁP VỀ
THỜI NIÊN THIẾU CỦA BÁC HỒ
trần nam tiến CHỦ BIêN
79 câu hỏi đáp
về thời niên thiếu
của Bác hồ
nhà xuất bản Trẻ
Biên soạn: nhóm nhân văn trẻ
4
- TRẦN NAM TIẾN (Chủ biên)
- TRẦN VĂN PHƯƠNG
- Nguyễn thị minh thúy
- NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
5
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta qua nhiều thời kỳ khác nhau, thời kỳ
nào cũng có những anh hùng hào kiệt, làm vẻ vang cho
non sông đất nước ta. Hồ Chí Minh – Người được toàn
dân ta gọi bằng cái tên thân kính “Bác Hồ” – là một
trong những vị anh hùng vĩ đại trong lịch sử đấu tranh
giành độc lập, tự do cho dân tộc; Người còn là một nhà
tư tưởng lớn của thời đại, một danh nhân văn hóa Việt
Nam và thế giới. Nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá
nhân đã nghiên cứu và viết về cuộc đời và sự nghiệp
cách mạng của Người. Thế nhưng, riêng phần quãng
đời thời niên thiếu của Bác Hồ thì rất ít tài liệu ghi chép
lại được, vì lúc sinh thời Bác Hồ ít khi nói về mình.
Ngoài Nghệ An là quê hương của Bác, cố đô Huế
là nơi Bác đã sống qua lâu nhất – cả hai lần gần mười
năm. Quãng đời thời niên thiếu có một ảnh hưởng nhất
định trong việc hình thành tư tưởng yêu nước và cách
mạng của Bác. Hoàn cảnh xã hội và sự hun đúc của
gia đình đã tạo cho Bác sớm có những biểu hiện khác
thường về trí thông minh và lòng yêu nước – những
dấu hiệu đầu tiên của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn
Hồ Chí Minh sau này.
“Hồ Chí Minh là hiện thân của dân tộc Việt Nam và
mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch”
(Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Với tinh thần yêu
nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã
bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân, thành bại của
các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi
tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
Lật lại những trang sách viết về cuộc đời và sự
nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thêm hiểu,
thêm yêu vị lãnh tụ vô cùng đáng kính, đáng tự hào
của dân tộc Việt Nam. Chưa có một vị lãnh tụ nào trên
thế giới lại được ngay cả nhân dân của các nước “đối
đầu” với mình cũng kính trọng và yêu mến như Bác
Hồ của chúng ta. Nhiều nhà báo nước ngoài đã dành
cho Người những dòng đầy kính nể, như trong một
cuốn sách của nhà báo người Pháp Jean Lacouture viết
năm 1967 có nội dung: “...Trên thế giới hiện nay không có
lãnh tụ nào đối với nhân dân của mình vừa là người phát
sinh, vừa là người bảo vệ, vừa là nguồn gốc, vừa là phương
hướng, vừa là tư tưởng, vừa là thực hành; vừa là dân tộc,
vừa là cách mạng; vừa là người “Bác” nhân hậu, vừa là vị
tướng cầm quân...”.
Hơn thế nữa, các tổ chức trên thế giới cũng dành cho
Người những dòng đầy tôn kính: “...Chủ tịch Hồ Chí
6
7
Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của
cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
...Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật
là kết tinh truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam và
những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng
của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của
mình và tiêu biểu cho sự hiểu biết lẫn nhau...” (Nghị quyết
của tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp
quốc (UNESCO) về kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vị anh hùng giải phóng dân
tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn”).
Vì vậy, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chúng ta càng hiểu rõ hơn lịch sử đất
nước, kính yêu những người có công xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc, phấn đấu cho sự tiến bộ của thế giới. Từ đó,
xác định nhiệm vụ đối với hiện tại và tương lai, noi
gương các tiền nhân trong công cuộc đấu tranh cách
mạng ngày nay. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ có
tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục thế hệ trẻ vững
tin vào con đường mà Người đã chọn. Tư tưởng Hồ
Chí Minh – một di sản vô cùng quý báu của Người để
lại cho dân tộc ta và nhân loại – vẫn còn giá trị qua các
thời đại tiếp sau.
Bộ sách “Hỏi đáp về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh” tuy chưa phải là một công trình
khoa học về tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song
được trình bày trên cơ sở tài liệu khoa học theo trình
tự thời gian, qua đó khắc họa khá đầy đủ cuộc đời của
Người với những hoạt động lớn, những công lao nổi
bật. Bộ sách được trình bày dưới dạng những câu hỏi
đáp gọn gàng, sinh động giúp người đọc dễ tra cứu. Bộ
sách vừa có tính chất phổ biến kiến thức khoa học lịch
sử, vừa đóng góp vào việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Vì vậy sách có thể phục vụ nhiều đối tượng,
các cán bộ làm công tác khoa học, giáo dục, tuyên huấn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành biên soạn,
nhưng do khả năng có hạn, nhất là chưa có điều kiện
khảo sát tận nơi những sự kiện, tài liệu gốc còn lưu
trữ... Vì vậy, chắc chắn bộ sách không tránh khỏi
còn những khiếm khuyết chưa khắc phục ngay được.
Chúng tôi chân thành mong mỏi nhận được nhiều ý
kiến đóng góp của bạn đọc xa gần.
nhà xuất bản Trẻ
8
9
?
“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã
sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và
chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non
sông đất nước ta”1 . Có thể nói, nhân cách Hồ Chí Minh đã sớm
được hình thành từ thời niên thiếu. Hãy cho biết đôi nét về thời
niên thiếu của Bác Hồ?
Bác
Hồ lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh
ngày 19-5-1890 tại quê mẹ là làng Hoàng Trù
(còn gọi là làng Chùa). Nguyễn Sinh Cung sinh ra
khi đất nước đã mất hoàn toàn về tay thực dân Pháp.
Nhiều cuộc nổi dậy chống Pháp đã nổ ra nhưng đều
lần lượt thất bại. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Sinh
Cung đã lớn lên trong cái nôi gia đình đầy tình yêu
thương đùm bọc của ông bà, cha mẹ và dì An.
Cha là Nguyễn Sinh Sắc tức Nguyễn Sinh Huy
(1862-1929) - một nhà nho yêu nước. Ông là người làng
Kim Liên thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Kim Liên, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mẹ của Người là bà Hoàng
Thị Loan (1868-1901) chuyên làm nghề nông và dệt vải.
Bà là con của cụ đồ Hoàng Đường, người ở làng Hoàng
Trù cách làng Kim Liên khoảng 2km.
Gia đình Bác Hồ có 4 anh chị em. Chị gái là bà
Nguyễn Thị Thanh (còn có tên là Nguyễn Thị Bạch
Liên (1884-1954), người anh trai của bác là Nguyễn Sinh
1. Trích Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu
trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình.
Khiêm (1888-1950),
Bác Hồ tên lúc còn nhỏ
là Nguyễn Sinh Cung
(tiếng địa phương gọi
là Côông). Người em
của Bác là Nguyễn
Sinh Xin (1900-1901)
đã mất khi còn nhỏ.
Sau khi ông Nguyễn
Sinh Sắc thi đậu Phó
bảng năm 1901, theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)
tập quán địa phương,
ông đã tổ chức lễ “Vào
làng” và đổi tên cho hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm
thành Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Sinh Cung thành
Nguyễn Tất Thành.
Năm 1895, Bác cùng anh theo cha mẹ vào Huế để
ông Sắc ôn luyện đi thi. Vừa học, ông vừa dạy kèm cho
hai con. Vì thế, người thầy đầu tiên và có ảnh hưởng
quan trọng đến Bác Hồ cũng chính là cha của Người.
Ngoài ra trong khoảng thời gian từ 1901 đến 1905 khi
còn ở quê nhà, những lúc cha bận, Bác cũng được theo
học với các thầy đồ khác có tiếng trong vùng là Hoàng
Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, và Trần Thân.
Năm 1906, Bác Hồ theo học tại trường Tiểu học
Pháp – Việt Đông Ba tại Huế. Ở đây, lần đầu tiên
10
11
Bác đã được biết đến những từ “Tự do, Bình
đẳng, Bác ái”. Tháng 9-1907, Người vào học tại
trường Quốc học Huế. Năm 1908, do tham gia cuộc
biểu tình của phong trào xin xâu và chống thuế của
nông dân Thừa Thiên, Bác bị trường Quốc học buộc
thôi học. Người bắt đầu con đường đi vào phía Nam.
Tháng 9-1909, Bác Hồ đến Quy Nhơn thăm cha và
theo học tiếng Pháp với thầy Phạm Ngọc Thọ. Năm
1910, trên đường vào Sài Gòn, Bác dừng lại tại Phan
Thiết và dạy học ở trường Dục Thanh môn chữ Hán
và thể dục. Không lâu sau đó, Bác rời Phan Thiết để
đến Sài Gòn.
Tháng 2-1911, Bác Hồ - Nguyễn Tất Thành đến
Sài Gòn. Bác đã xin vào làm và học tại trường
đào tạo công nhân kỹ thuật. Với ước mơ đi sang
phương Tây xem các nước tư bản như thế nào để về
giúp dân mình, Bác đã xin làm việc trên chiếc tàu
L'Admiral Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp
nhất (Charguers Réunis) của Pháp mà người dân
thường gọi là hãng Năm Sao (vì trên ống khói của
tàu có vẽ hình năm ngôi sao). Ngày 5-6-1911, tàu
L'Admiral Latouche Tréville rời cảng Nhà Rồng, rời
Việt Nam bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu
nước của Bác. Từ đây bắt đầu một trang mới của
người chiến sĩ cách mạng quốc tế mang tên Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh...
?
Tỉnh Nghệ An - quê hương của Bác Hồ - là một vùng đất có
truyền thống yêu nước lâu đời, đã hun đúc cho Bác lòng yêu
nước từ thuở còn thơ. Xin cho biết vài nét về vùng đất này?
Nghệ An là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hoá và
truyền thống cách mạng lâu đời. Với vị trí chiến lược
quan trọng, Nghệ An luôn là “phên dậu của nước
nhà”, là “thành đồng ao nóng”, là “then khoá của mọi
thời đại”.
Đất Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ
của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc, Đường Cao Tông
đổi tên nước ta là An Nam Đô Hộ Phủ, đất này thành
Châu Hoan, Châu Diễn, gồm 11 huyện. Đời vua Trần
Duệ Tông (1372-1377), đổi Châu Hoan thành Nghệ An.
Đời Vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đổi lộ Nghệ An
thành trấn Lâm An. Sang đến nhà Lê, đây là đạo Tây
Hải, rồi gọi là Nghệ An thừa tuyên. Thời Tây Sơn đặt
là Trung Đô, sau thành trấn Nghệ An. Đời nhà Nguyễn
đất này là trấn Nghệ An. Năm Minh Mạng thứ 12, vua
đổi trấn thành tỉnh Nghệ An. Hà Tĩnh cũng là tỉnh sau
trở thành một đạo của Nghệ An.
Sông Lam, núi Hồng, huyện Nam Đàn, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
12
13
Từ những thế kỷ trước, Nghệ An là vùng
biên viễn của nước Đại Việt, cũng là nơi dân tộc
ta đi tiếp cuộc hành trình mở mang bờ cõi về phương
Nam. Vì thế, ca dao xưa có câu:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Xa trung tâm, nên sự quản lý, ràng buộc của nhà nước
Đại Việt đối với vùng đất này còn khá lỏng lẻo. Suốt
cả một thời gian dài, các triều đại phong kiến chưa đủ
sức quản lý chặt chẽ và giữ vững an ninh trật tự ở vùng
đất này. Các cộng đồng cư dân ở đây phần lớn phải tự
bảo vệ cho sự bình yên của mình. Mặc khác, do thường
xuyên phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt nên con
người nơi đây phải vươn lên bằng sức mạnh của ý chí và
nghị lực để tồn tại, phát triển. Tất cả những yếu tố đó đã
tạo nên nét “gia phong” của người Nghệ An.
Nghệ An mang nhiều nét chung, tiêu biểu của đất
nước, dân tộc, song con người ở xứ sở sông Lam, núi
Hồng cũng có những nét riêng, những đặc điểm của
“xứ Nghệ”. Nhà sử học Phan Huy Chú nhìn thấy ở đây
không chỉ là vùng “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm,
nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa chuộng
học hành”. Trong sách Đại Nam nhất thống chí của triều
Nguyễn đã mô tả, đây là địa phương có “núi cao sông
rộng, phong tục thuần hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất
danh tiếng hơn cả Nam châu. Người thì thuận hoà mà chăm
học, sản vật thì nhiều thứ quý lạ... Được khí tốt của núi sông
nên sinh ra nhiều bậc danh hiền...”.
Nhân dân Nghệ An giàu truyền thống lao động sản
xuất, đấu tranh chống ngoại xâm. Nghệ An, Hà Tĩnh là
nơi sản sinh ra nhiều anh hùng trong đấu tranh chống
Bắc thuộc, là hậu phương, căn cứ vững chắc trong các
cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâm
lược. Khi tạm rời kinh thành Thăng Long, vượt biển vào
phía Nam để chuẩn bị lực lượng phản công quân Mông
Nguyên lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông đã viết
lên đuôi thuyền rồng hai câu thơ:
Cối kê cựu sự quân tu ký
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh
Có nghĩa là:
Chuyện cũ cối kê người nên nhớ
Hoan châu, Diễn châu vẫn còn 10 vạn binh.
Trong kháng chiến chống quân Minh, trong phong trào
Tây Sơn, vùng đất Nghệ An đóng góp nhiều vào cuộc
đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước. Trong phong
trào chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nghệ An
đã giương cao ngọn cờ Cần Vương chống Pháp.
Nghệ An là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, là nơi hội
tụ nhiều anh hùng, chiến sĩ như năm 722, Mai Thúc
Loan đã lấy vùng này để lập căn cứ khởi nghĩa chống
ách đô hộ nhà Đường; đây cũng chính là quê tổ của
anh em nhà Nguyễn Huệ (thuộc xã Hưng Đạo, huyện
14
15
Hưng Nguyên); Phan Bội Châu, một sĩ phu,
nhà yêu nước lớn nửa đầu thế kỷ XX. Ngoài ra
còn có những anh hùng hào kiệt như trên núi Chung
có đền thờ Nguyễn Đắc Đài, một danh tướng đời Trần
có công đánh giặc ngoại xâm; nơi đây cũng là nơi Tú
tài Vương Thúc Mậu (1822 – 1886) lập đội “Chung nghĩa
binh”, dựng cờ Cần Vương chống Pháp... Và đặc biệt,
vùng đất này đã sinh ra vị lãnh tụ, anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh.
Với tất cả những truyền thống tốt đẹp ấy, Nghệ An
trở thành một cái nôi nuôi dưỡng, hun đúc nơi cậu bé
Nguyễn Sinh Cung (tên Bác Hồ hồi nhỏ) một tấm lòng
nhân ái, tình yêu quê hương, lòng yêu nước, thương
dân... để sau này đi đến hành động cứu nước. Khi
nhận xét về mảnh đất truyền thống này, đồng chí Lê
Duẩn đã nói: “Trong nước ta hàng ngàn năm nay, Nghệ
Tĩnh là nơi xây dựng cơ sở chống ngoại xâm giữ vững
nước nhà. Khi nào phía Bắc mất, người ta lại vào đây
xây dựng lực lượng, xây dựng sức mạnh để giải phóng
cả nước. Do cơ sở vị trí truyền thống đó mà chúng ta
không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinh trưởng
những lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Cái đó không phải
tình cờ mà do lịch sử tự nhiên, lịch sử lâu đời, lịch sử
xây dựng kiến thiết đất nước đã hun đúc lại Nghệ Tĩnh,
nhân dân anh dũng, cần cù lao động, có nhiều năng lực
phi thường”1 .
1 Theo Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr. 17-18.
?
Xin cho biết vài nét về quê nội của Bác Hồ?
Quê cha Bác Hồ ở làng Kim Liên thuộc xã Chung
Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Xã Chung Cự gồm có 7 làng là: Kim Liên, Hoàng Trù,
Ngọc Đình, Vân Hội, Tỉnh Lý, Cường Kỵ, Khoa Cử. Cả
7 làng nằm xung quanh núi Chung.
Là vùng “đất văn vật, chốn thi thư”, người dân ở đây
có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt nhưng
là vùng đất nghèo nên người dân phải lao động chân
tay rất vất vả vì “có thực mới vực được đạo”. Ngoài làm
ruộng còn có làm thêm nhiều nghề khác như dệt vải,
đan lát hoặc sơn tràng, kiếm củi, đốt than v.v...
Xưa kia vùng này được gọi là Trại Sen với những địa
danh toàn tên sen như: Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu,
Giếng Sen, Đầm Sen, Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen v.v...
Sen đã tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên
làng có tên gọi là làng Sen.
Núi Chung là một ngọn núi không cao, có tầm quan
sát cả vùng. Đây là một thắng cảnh của Nam Đàn và
cũng là một di tích lịch sử. Trên núi có đền thờ Nguyễn
Đắc Đài, một danh tướng thời Trần có công đánh giặc.
Năm 1886, khi thực dân Pháp đến xâm lược, tú tài
Vương Thúc Mậu, người làng Kim Liên đã lập đội
Chung nghĩa binh đánh giặc.
Phía Tây có núi Hùng Sơn (rú Đụn) đồ sộ. Nơi đây có
thành Vạn An và đền thờ Mai Hắc Đế để tưởng nhớ người
16
17
Ngôi nhà quê nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống cùng gia đình
ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
anh hùng đã chống quân xâm lược nhà Đường năm 722.
Phía tây nam là dãy núi Thiên Nhẫn trùng trùng điệp
điệp. Nơi đây có thành Lục Niên, một trong những bản
doanh của nghĩa quân Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước.
Phía Đông có núi Lam Thành với ba ngọn Triều
Khẩu, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam
chế của sông Lam, một thời từng làm chỗ đứng cho lỵ
sở Hoan Châu.
Phía Bắc là dãy núi Đại Vạc, Đại Huệ, là nơi Hồ Quý
Ly và Hồ Hán Thương chọn xây thành lũy trong cuộc
chiến chống quân Minh xâm lược. Dưới Đại Huệ là dãy
Đại Hải, nơi có mộ tổ của Nguyễn Huệ. Ông đã chọn
Nghệ Tĩnh để xây dựng Phượng Hoàng trung đô dưới
chân núi Dũng Quyết thuộc thành phố Vinh.
Nghệ Tĩnh còn là quê hương của các nhà cách mạng
yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Lê
Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Trần Phú, Nguyễn Thị
Minh Khai và xa hơn nữa dưới chân núi Hồng Lĩnh
là quê hương của Nguyễn Công Trứ và đại thi hào
Nguyễn Du. Đất nước, núi sông quê hương của Bác Hồ
gắn bó chặt chẽ với lịch sử nước nhà.
Tuy là vùng đất sản sinh ra nhiều con người ưu tú
như vậy nhưng khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không hề
được thiên nhiên ưu đãi. Đất đai thì cằn cỗi, nhiều nơi
là đồng chua nước mặn, khí hậu khắc nghiệt. Thiên
nhiên đã rèn luyện cho con người nơi đây sự cần cù,
siêng năng để đấu tranh với thiên nhiên giành giật từng
củ khoai, hạt lúa. Nhân dân đã có câu ca dao:
“Muốn ăn thì phải chăm làm
Một hạt thóc vàng chín hạt mồ hôi”
Thiên nhiên càng khắc nghiệt thì con người càng
phải nghị lực, dẻo dai, bền bỉ. Cuộc sống đã rèn luyện
cho con người nơi đây nghị lực, sự kiên cường, dũng
cảm trong chiến đấu.
Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
Bố Đức v.v... Hát phường vải là cuộc thử trí thi tài giữa
nam và nữ. Điều này khiến cho người dân nơi đây,
18
19
nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt chữ song
lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
thường, trọng nghĩa khí.
Vùng Kim Liên quê nội Bác Hồ nổi tiếng có truyền
thống hiếu học. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vùng
Nam Đàn có bốn người học giỏi nổi tiếng được mệnh
danh là “tứ hổ” thì làng Kim Liên đã có 3 người là
Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương và Nguyễn Sinh
Sắc, còn Phan Bội Châu là người ở làng Đan Nhiệm.
Ngày 16-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm
lại quê cha sau 50 năm xa cách. Tại đây, Người đã thăm
lại những kỷ vật gắn bó thân thiết thuở còn niên thiếu,
Bác đã hỏi thăm giếng Cốc, lò rèn Cố Điền là những
nơi Người thường ra gánh nước, thổi bể, rèn đồ chơi
thuở nhỏ. Ngày 9-12-1961, Bác lại về thăm xã Kim Liên
lần thứ hai.
?
Bạn biết gì về quê ngoại Bác Hồ?
Quê
ngoại Bác Hồ chính là nơi Người cất tiếng
khóc chào đời – làng Hoàng Trù (hay còn gọi là làng
Chùa), chung một xã Chung Cự với quê nội (làng Kim
Ngôi nhà quê ngoại, nơi sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Liên), tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An. Chính nơi đây, bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của
Người - đã được sinh ra và lớn lên bởi truyền thống của
họ Hoàng mà cha là cụ Hoàng Đường – có tiếng là nhân
từ, trọng nghĩa tình, sống gần gũi với nhân dân. Theo
gia phả họ Hoàng, chi nhánh ở làng Chùa có nguồn gốc
là làng Hoàng Vân, tổng Yên Lạc, huyện Kim Động,
tỉnh Hưng Yên.
Chính vì vậy mà trước nhà thờ họ Hoàng (thuộc khu
di tích Kim Liên) có đôi câu đối:
“Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ
Chung Cự hùng thanh chấn ức niên”
Đại ý là: Hoàng Vân khí tốt truyền từ nghìn xưa lại.
Chung Cự tiếng hùng vọng đến vạn năm sau.
20
21
Dòng họ này xưa kia có nhiều người học giỏi,
làm quan to, con người chân chất, mộc mạc. Và
cũng chính ở nơi này Nguyễn Sinh Cung đã lớn lên
trong tình thương yêu đùm bọc của ông bà, cha mẹ,
và dì An; được học những bài học đầu tiên về đạo làm
người, về đức nhân từ ở bà ngoại, ở những ông hát xẩm,
những người bạn đèn sách của cha...
Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
Bố Đức v.v... Do nghề bông vải nên hát phường vải là
hình thức sinh hoạt tinh thần rất phổ biến tại đây. Đêm
đêm, trai gái trong vùng thường quay xa, kéo sợi và
Khung cửi mà bà Hoàng Thị Loan dùng để dệt vải.
hát với nhau, có khi thâu đêm suốt sáng. Sự phát triển
của loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này khiến cho
người dân nơi đây, nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt
chữ song lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
thường, trọng nghĩa khí. Bà Hoàng Thị Loan, mẹ Bác
và bà Hoàng Thị An, dì của Bác cũng là những người
hát hay nổi tiếng ở Chung Cự.
Ông bà ngoại của Bác sinh ra trong gia đình Nho
học. Cụ ông là một nhà Nho, mở lớp dạy học tại nhà, cụ
bà làm ruộng là chính, khi rảnh rỗi cụ cùng hai cô con
gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm thêm nghề
dệt vải. Nhà của ông bà ngoại Bác Hồ là một ngôi nhà
gỗ năm gian, lợp tranh. Khi tác hợp cho Nguyễn Sinh
Sắc và Hoàng Thị Loan, hai cụ đã làm một ngôi nhà ba
gian đầu góc vườn phía Tây để cho hai con ở. Bác Hồ
đã sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà ba gian này.
Ngày 9-12-1961, sau hơn 60 năm xa cách, Chủ tịch Hồ
Chí Minh mới về thăm lại ngôi nhà tranh, nơi Người cất
tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu của tuổi ấu
thơ. Có thể nói, vùng đất này không những đã chứng kiến
giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, ghi lại những kỷ
22
23
niệm êm đẹp, thân thương trong những năm đầu
của tuổi ấu thơ, mà còn chứng kiến sự kiện Người
về thăm quê năm 1961 sau bao nhiêu năm bôn ba hải
ngoại tìm đường cứu nước, xa cách quê hương.
?
Nghệ An là vùng đất có truyền thống lao động cần cù, chăm
học và giàu lòng yêu nước, anh dũng đấu tranh chống ngoại
xâm, trong đó Kim Liên nổi tiếng là đất hiếu học, có nhiều người
đỗ đạt, hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và giải phóng
dân tộc. Những truyền thống này đã ảnh có hưởng đến cậu bé
Nguyễn Sinh Cung như thế nào?
Nghệ
An vốn là “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần
kiệm, nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa
chuộng học hành...”1 nên được “gọi là đất danh tiếng
hơn cả năm châu... sinh ra nhiều bậc danh hiền...”2 .
Trong đó, Kim Liên cũng nổi tiếng là đất hiếu học có
truyền thống lao động cần cù và giàu lòng yêu nước.
Từ năm 1635-1890, trong 96 kỳ thi hương, có 82 thí sinh
làng Kim Liên và làng Hoàng Trù đỗ tú tài và Cử nhân
Vương Thúc Mậu là nhà nho yêu nước, một lãnh tụ
trong phong trào Cần Vương.
Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo yêu
nước, có nguồn gốc nông dân, Nguyễn Sinh Cung đã
nhận được sự giáo dục tốt đẹp, đặc biệt là lòng nhân ái,
tình yêu quê hương Tổ quốc. Từ sớm, cậu Cung được
1 Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 121.
2 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, phần “Dư địa chí”, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, tr. 65.
chứng kiến cảnh sống nghèo khổ của người dân bị áp
bức, bóc lột, muốn tìm hiểu vì sao có cảnh ngang trái
ấy, nhất là lúc vào sống tại kinh thành Huế.
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của quê hương,
cậu thiếu niên giàu lòng thương người này đã dần dần
nhen nhóm và hình thành lòng yêu nước, ý thức cứu
nước để sau này đi đến hành động cứu nước. Lòng
căm thù bọn thống trị, mong muốn giải thoát nhân dân
thoát khỏi ách nô dịch, đói nghèo được nảy sinh và lớn
lên từ truyền thống dân tộc, quê hương, do ảnh hưởng
giáo dục của gia đình và hiện thực cuộc đời nô lệ. Vì
vậy, Louis Arnoux – Chánh mật thám Đông Dương
những năm đầu thế kỷ XX – đã có lý khi nhận xét rằng
cuộc đời này của Nguyễn Tất Thành “đã bắt đầu trong
không khí bất công, oán hận và phẫn nộ căm thù chống
lại nước Pháp”1.
Có thể nói, trong thời gian sống ở làng Sen, Nguyễn
Tất Thành (tên mới của Nguyễn Sinh Cung) đã chịu
ảnh hưởng rất nhiều từ cha ruột của mình - ông
Nguyễn Sinh Sắc. Ông là người ủng hộ phái Nho giáo
yêu nước. Ông tìm mọi cách làm cho con cái mình thấm
nhuần tư tưởng yêu nước ấy. Cụ rất thích kể cho con cái
nghe những câu chuyện mang tính chất giáo huấn tiếp
thu được từ trong quá khứ của Tổ quốc, giảng giải cho
con cái hiểu những câu châm ngôn và cách ngôn của
1 Dẫn theo Phan Ngọc Liên – Trịnh Vương Hồng, Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế, Nxb.
Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 12.
24
25
các bậc hiền triết cổ xưa có tư tưởng gần gũi với
tư tưởng của cụ. Chính nhờ ảnh hưởng quý báu
đó nên tuy cũng nghiền ngẫm sách vở Nho giáo như
thanh thiếu niên khác, nhưng Nguyễn Tất Thành lại
hấp thụ một hệ thống quan điểm chính trị – tư tưởng
hơi khác, có thể nói đó là một biến thể độc đáo của
Nho giáo đã được chắt lọc và thấm nhuần chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam.
Cần nói rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh đã sớm nhận
thức được hiện thực xã hội nước ta lúc bấy giờ và tìm
câu trả lời cho các vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống:
“Những nguyên nhân nào sinh ra các hiện tượng áp
bức, bất công này? Phải làm gì để cứu nước, giúp đỡ
đồng bào”. Tất cả những câu trả lời này đều được thể
hiện ở hành động của Người. Ngay từ khi còn tuổi niên
thiếu, Nguyễn Tất Thành đã có các hoạt động yêu nước.
Năm 1906, lúc đó mới 16 tuổi, người thanh niên này đã
“tham gia công tác bí mật nhận công tác liên lạc”. Song
đến năm 1908, Người mới thực sự hoạt động cứu nước,
khi tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân
Thừa Thiên. Tuy nhiên, cái chí của người thanh niên
giàu lòng yêu nước này không phải là làm cậu ấm con
quan, mà chỉ lấy nơi đây làm chỗ trú chân tạm thời trên
cuộc hành trình cứu nước. Vì vậy, khi được tin cha bị
triều đình bãi chức, Nguyễn Tất Thành quyết định tiếp
tục đi vào phương Nam để tìm đường cứu nước.
?
Cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác Hồ là một nhà nho
yêu nước, có nhân cách đáng quý. Hãy cho biết vài nét về nhân
vật này?
Cụ
thân sinh của Bác Hồ là cụ Nguyễn Sinh Sắc,
hiệu là Trí Hiếu, Trí Đễ, khi vào thi hội cải là Nguyễn
Sinh Huy, về sau lấy diệt danh Nguyễn Xuân Sắc,
Nguyễn Phan Diêu. Ông sinh năm 18621 tại làng Kim
Liên, thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông sống
với người anh cùng cha khác mẹ. Không được học hành
nhưng ông rất ham học. Tuy phải chăn trâu nhưng mỗi
khi qua cổng lớp học của thầy đồ Vương Thúc Mậu là
ông thường mải mê nghe giảng rồi tập viết vào nền
đất, lá cây.
Có thầy Hoàng Đường ở làng Chùa hay đến làng Sen
chơi cùng thầy Vương Thúc Mậu, thấy cậu bé chăn trâu
ham học, biết hoàn cảnh gia đình nên xin về nuôi dạy.
Từ đó, ông được đi học. Vài năm sau, khi trình độ học
vấn đã khá, ông Hoàng Đường đã cho Sinh Sắc theo
học thầy Nguyễn Thức Tự, một người nổi tiếng uyên
bác, ông Sắc trở thành người học giỏi có tiếng vào hàng
nhất nhì ở làng Sen.
1 Về năm sinh của ông Nguyễn Sinh Sắc, trước đây có sách ghi là năm 1863 nhưng các văn bản
của triều Nguyễn bổ nhiệm ông, cũng như danh sách trúng tuyển kỳ thi Hội năm Thành Thái thứ
13 đều ghi ông sinh năm Nhâm Tuất (1862). Theo hồ sơ A.3780 của Tòa Khâm sứ Trung Kỳ
ngày 21-1-1920 gửi Sở Mật thám trung ương thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương thì Nguyễn
Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) sinh năm 1862 (Nhâm Tuất). Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết:
ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng mất (7-1864). Từ đó
chúng tôi đã chọn năm 1862 là ngày sinh của ông Sắc.
26
27
Được mọi người
trong làng yêu mến
vì vừa học giỏi, vừa lễ độ,
cụ Hoàng Đường đã gả cô
con gái lớn của mình là
Hoàng Thị Loan cho Sinh
Sắc. Năm 1883, lễ cưới
được tổ chức tại làng Chùa.
Khoa thi Hương năm Tân
Mão 1891, ông chỉ đậu nhị
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929)
thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
trường. Sau khi cha vợ mất,
ông mở lớp dạy tại nhà và
ôn luyện để chuẩn bị đi thi.
Khoa thi Hương năm Giáp Ngọ (1894), ông đậu cử nhân.
Năm 1895, ông dự kỳ thi Hội khoa Ất Mùi nhưng
không đậu. Sau đó, ông đã đưa gia đình vào Huế sinh
sống để ông yên tâm lo bề khoa cử. Cuộc sống khó
khăn của gia đình phải trông nhờ vào sự đảm đang lo
toan của bà Loan. Bà tiếp tục dệt vải để nuôi con, nuôi
chồng ăn học. Ông được nhận vào học tại Quốc Tử
Giám để ôn luyện chờ khoa thi sau.
Năm 1898, ông Sắc trượt khoa thi Hội, ông không
còn là nho sinh tại Quốc Tử Giám nên cũng không được
nhận học bổng của trường. Qua người bạn, ông Sắc đã
tìm được chỗ dạy học tại nhà ông Nguyễn Sĩ Độ ở làng
Dương Nỗ, huyện Phú Vang. Ông đem hai con Nguyễn
Sinh
Khiêm
và
Nguyễn Sinh Cung
theo đến đây ở để
vừa dạy học vừa dạy
chữ cho con, còn bà
Loan vẫn ở lại Huế.
Bà con trong làng
và các vùng lân cận
nghe tiếng ông hay
chữ đã cho con em
đến học ngày càng
Nơi học tập của ông Nguyễn Sinh Sắc.
đông. Học trò thuộc
nhiều lứa tuổi khác
nhau, tuy bận rộn với việc dạy học nhưng ông vẫn ôn
luyện chờ khoa thi sau. Hàng tháng, ông vẫn xin dự
thính bình văn ở trường Quốc Tử Giám.
Năm Canh Tý 1900, ông Sắc được cử đi làm đề lại
(thư ký) cho trường thi Hương Thanh Hóa. Tại Huế, vợ
ông đã mất sau khi sinh con thứ tư. Sinh Cung tuổi còn
nhỏ phải chăm em chờ cha và anh về. Sau cái chết của
vợ, ông Sắc đưa con trở về quê mở lớp dạy học để nuôi
con. Nhiều người xa gần nghe tiếng của ông đã gửi con
đến nhờ ông dạy dỗ.
Được sự động viên của bà con, nghĩ đến sự hi sinh của
vợ và ơn nghĩa của cha mẹ vợ, ông quyết tâm vào Huế
dự thi Hội lần nữa. Tại khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901,
28
29
Nguyễn Sinh Sắc (lúc này lấy tên là Nguyễn
Sinh Huy) đậu Phó bảng. Sau khi về quê vinh
quy bái tổ, từ 1901 - 1906, Nguyễn Sinh Sắc không trở lại
Kinh chờ lệnh bổ hàm. Mâu thuẫn trong lòng ông thực
ra cũng là điều trăn trở của nhiều sĩ phu thời bấy giờ. Ba
mươi năm dùi mài kinh sử mới đỗ đạt thế nhưng rồi ông
chần chừ không muốn ra làm quan. Làm quan thì mới
lo lắng được cho gia đình, nuôi dạy các con và phụng
dưỡng người mẹ vợ đã già. Đây cũng là con đường ông
đã chọn để đáp lại tấm lòng của cha mẹ vợ, của người
vợ đã tận tình lo lắng cho ông suốt bao nhiêu năm. Thế
nhưng, thân phận của người dân mất nước cùng sự nhốn
nháo chốn quan trường lúc này làm cho ông trăn trở.
Ông đã chọn cách cáo ốm để không ra nhận chức. Ông
dùng thời gian này đưa hai con đi nhiều nơi trong các
tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh dạy học và giao du với các sĩ
phu. Nhờ đó mà dù còn nhỏ nhưng Nguyễn Tất Thành
đã được đi nhiều nơi, thấy được nhiều cảnh đời khác
nhau, cảm nhận được sự nghèo khổ của nhân dân và
nỗi nhục mất nước, được tiếp xúc với nhiều nhà nho yêu
nước và những suy nghĩ, trăn trở của họ về thời cuộc từ
đó mở rộng tầm mắt hơn.
Cuối cùng, không thể trì hoãn hơn được nữa, tháng
5-1906, ông Sắc đưa hai con trai đến Huế để nhậm chức.
Tại đây, ông làm việc cho Bộ Lễ. Năm 1909, triều đình
bổ nhiệm ông làm Thừa biện Bộ ...
THỜI NIÊN THIẾU CỦA BÁC HỒ
trần nam tiến CHỦ BIêN
79 câu hỏi đáp
về thời niên thiếu
của Bác hồ
nhà xuất bản Trẻ
Biên soạn: nhóm nhân văn trẻ
4
- TRẦN NAM TIẾN (Chủ biên)
- TRẦN VĂN PHƯƠNG
- Nguyễn thị minh thúy
- NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
5
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta qua nhiều thời kỳ khác nhau, thời kỳ
nào cũng có những anh hùng hào kiệt, làm vẻ vang cho
non sông đất nước ta. Hồ Chí Minh – Người được toàn
dân ta gọi bằng cái tên thân kính “Bác Hồ” – là một
trong những vị anh hùng vĩ đại trong lịch sử đấu tranh
giành độc lập, tự do cho dân tộc; Người còn là một nhà
tư tưởng lớn của thời đại, một danh nhân văn hóa Việt
Nam và thế giới. Nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá
nhân đã nghiên cứu và viết về cuộc đời và sự nghiệp
cách mạng của Người. Thế nhưng, riêng phần quãng
đời thời niên thiếu của Bác Hồ thì rất ít tài liệu ghi chép
lại được, vì lúc sinh thời Bác Hồ ít khi nói về mình.
Ngoài Nghệ An là quê hương của Bác, cố đô Huế
là nơi Bác đã sống qua lâu nhất – cả hai lần gần mười
năm. Quãng đời thời niên thiếu có một ảnh hưởng nhất
định trong việc hình thành tư tưởng yêu nước và cách
mạng của Bác. Hoàn cảnh xã hội và sự hun đúc của
gia đình đã tạo cho Bác sớm có những biểu hiện khác
thường về trí thông minh và lòng yêu nước – những
dấu hiệu đầu tiên của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn
Hồ Chí Minh sau này.
“Hồ Chí Minh là hiện thân của dân tộc Việt Nam và
mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch”
(Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Với tinh thần yêu
nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã
bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân, thành bại của
các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi
tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
Lật lại những trang sách viết về cuộc đời và sự
nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thêm hiểu,
thêm yêu vị lãnh tụ vô cùng đáng kính, đáng tự hào
của dân tộc Việt Nam. Chưa có một vị lãnh tụ nào trên
thế giới lại được ngay cả nhân dân của các nước “đối
đầu” với mình cũng kính trọng và yêu mến như Bác
Hồ của chúng ta. Nhiều nhà báo nước ngoài đã dành
cho Người những dòng đầy kính nể, như trong một
cuốn sách của nhà báo người Pháp Jean Lacouture viết
năm 1967 có nội dung: “...Trên thế giới hiện nay không có
lãnh tụ nào đối với nhân dân của mình vừa là người phát
sinh, vừa là người bảo vệ, vừa là nguồn gốc, vừa là phương
hướng, vừa là tư tưởng, vừa là thực hành; vừa là dân tộc,
vừa là cách mạng; vừa là người “Bác” nhân hậu, vừa là vị
tướng cầm quân...”.
Hơn thế nữa, các tổ chức trên thế giới cũng dành cho
Người những dòng đầy tôn kính: “...Chủ tịch Hồ Chí
6
7
Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của
cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
...Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật
là kết tinh truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam và
những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng
của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của
mình và tiêu biểu cho sự hiểu biết lẫn nhau...” (Nghị quyết
của tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp
quốc (UNESCO) về kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vị anh hùng giải phóng dân
tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn”).
Vì vậy, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chúng ta càng hiểu rõ hơn lịch sử đất
nước, kính yêu những người có công xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc, phấn đấu cho sự tiến bộ của thế giới. Từ đó,
xác định nhiệm vụ đối với hiện tại và tương lai, noi
gương các tiền nhân trong công cuộc đấu tranh cách
mạng ngày nay. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ có
tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục thế hệ trẻ vững
tin vào con đường mà Người đã chọn. Tư tưởng Hồ
Chí Minh – một di sản vô cùng quý báu của Người để
lại cho dân tộc ta và nhân loại – vẫn còn giá trị qua các
thời đại tiếp sau.
Bộ sách “Hỏi đáp về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh” tuy chưa phải là một công trình
khoa học về tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song
được trình bày trên cơ sở tài liệu khoa học theo trình
tự thời gian, qua đó khắc họa khá đầy đủ cuộc đời của
Người với những hoạt động lớn, những công lao nổi
bật. Bộ sách được trình bày dưới dạng những câu hỏi
đáp gọn gàng, sinh động giúp người đọc dễ tra cứu. Bộ
sách vừa có tính chất phổ biến kiến thức khoa học lịch
sử, vừa đóng góp vào việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Vì vậy sách có thể phục vụ nhiều đối tượng,
các cán bộ làm công tác khoa học, giáo dục, tuyên huấn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành biên soạn,
nhưng do khả năng có hạn, nhất là chưa có điều kiện
khảo sát tận nơi những sự kiện, tài liệu gốc còn lưu
trữ... Vì vậy, chắc chắn bộ sách không tránh khỏi
còn những khiếm khuyết chưa khắc phục ngay được.
Chúng tôi chân thành mong mỏi nhận được nhiều ý
kiến đóng góp của bạn đọc xa gần.
nhà xuất bản Trẻ
8
9
?
“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã
sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và
chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non
sông đất nước ta”1 . Có thể nói, nhân cách Hồ Chí Minh đã sớm
được hình thành từ thời niên thiếu. Hãy cho biết đôi nét về thời
niên thiếu của Bác Hồ?
Bác
Hồ lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh
ngày 19-5-1890 tại quê mẹ là làng Hoàng Trù
(còn gọi là làng Chùa). Nguyễn Sinh Cung sinh ra
khi đất nước đã mất hoàn toàn về tay thực dân Pháp.
Nhiều cuộc nổi dậy chống Pháp đã nổ ra nhưng đều
lần lượt thất bại. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Sinh
Cung đã lớn lên trong cái nôi gia đình đầy tình yêu
thương đùm bọc của ông bà, cha mẹ và dì An.
Cha là Nguyễn Sinh Sắc tức Nguyễn Sinh Huy
(1862-1929) - một nhà nho yêu nước. Ông là người làng
Kim Liên thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Kim Liên, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mẹ của Người là bà Hoàng
Thị Loan (1868-1901) chuyên làm nghề nông và dệt vải.
Bà là con của cụ đồ Hoàng Đường, người ở làng Hoàng
Trù cách làng Kim Liên khoảng 2km.
Gia đình Bác Hồ có 4 anh chị em. Chị gái là bà
Nguyễn Thị Thanh (còn có tên là Nguyễn Thị Bạch
Liên (1884-1954), người anh trai của bác là Nguyễn Sinh
1. Trích Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu
trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình.
Khiêm (1888-1950),
Bác Hồ tên lúc còn nhỏ
là Nguyễn Sinh Cung
(tiếng địa phương gọi
là Côông). Người em
của Bác là Nguyễn
Sinh Xin (1900-1901)
đã mất khi còn nhỏ.
Sau khi ông Nguyễn
Sinh Sắc thi đậu Phó
bảng năm 1901, theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)
tập quán địa phương,
ông đã tổ chức lễ “Vào
làng” và đổi tên cho hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm
thành Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Sinh Cung thành
Nguyễn Tất Thành.
Năm 1895, Bác cùng anh theo cha mẹ vào Huế để
ông Sắc ôn luyện đi thi. Vừa học, ông vừa dạy kèm cho
hai con. Vì thế, người thầy đầu tiên và có ảnh hưởng
quan trọng đến Bác Hồ cũng chính là cha của Người.
Ngoài ra trong khoảng thời gian từ 1901 đến 1905 khi
còn ở quê nhà, những lúc cha bận, Bác cũng được theo
học với các thầy đồ khác có tiếng trong vùng là Hoàng
Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, và Trần Thân.
Năm 1906, Bác Hồ theo học tại trường Tiểu học
Pháp – Việt Đông Ba tại Huế. Ở đây, lần đầu tiên
10
11
Bác đã được biết đến những từ “Tự do, Bình
đẳng, Bác ái”. Tháng 9-1907, Người vào học tại
trường Quốc học Huế. Năm 1908, do tham gia cuộc
biểu tình của phong trào xin xâu và chống thuế của
nông dân Thừa Thiên, Bác bị trường Quốc học buộc
thôi học. Người bắt đầu con đường đi vào phía Nam.
Tháng 9-1909, Bác Hồ đến Quy Nhơn thăm cha và
theo học tiếng Pháp với thầy Phạm Ngọc Thọ. Năm
1910, trên đường vào Sài Gòn, Bác dừng lại tại Phan
Thiết và dạy học ở trường Dục Thanh môn chữ Hán
và thể dục. Không lâu sau đó, Bác rời Phan Thiết để
đến Sài Gòn.
Tháng 2-1911, Bác Hồ - Nguyễn Tất Thành đến
Sài Gòn. Bác đã xin vào làm và học tại trường
đào tạo công nhân kỹ thuật. Với ước mơ đi sang
phương Tây xem các nước tư bản như thế nào để về
giúp dân mình, Bác đã xin làm việc trên chiếc tàu
L'Admiral Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp
nhất (Charguers Réunis) của Pháp mà người dân
thường gọi là hãng Năm Sao (vì trên ống khói của
tàu có vẽ hình năm ngôi sao). Ngày 5-6-1911, tàu
L'Admiral Latouche Tréville rời cảng Nhà Rồng, rời
Việt Nam bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu
nước của Bác. Từ đây bắt đầu một trang mới của
người chiến sĩ cách mạng quốc tế mang tên Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh...
?
Tỉnh Nghệ An - quê hương của Bác Hồ - là một vùng đất có
truyền thống yêu nước lâu đời, đã hun đúc cho Bác lòng yêu
nước từ thuở còn thơ. Xin cho biết vài nét về vùng đất này?
Nghệ An là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hoá và
truyền thống cách mạng lâu đời. Với vị trí chiến lược
quan trọng, Nghệ An luôn là “phên dậu của nước
nhà”, là “thành đồng ao nóng”, là “then khoá của mọi
thời đại”.
Đất Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ
của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc, Đường Cao Tông
đổi tên nước ta là An Nam Đô Hộ Phủ, đất này thành
Châu Hoan, Châu Diễn, gồm 11 huyện. Đời vua Trần
Duệ Tông (1372-1377), đổi Châu Hoan thành Nghệ An.
Đời Vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đổi lộ Nghệ An
thành trấn Lâm An. Sang đến nhà Lê, đây là đạo Tây
Hải, rồi gọi là Nghệ An thừa tuyên. Thời Tây Sơn đặt
là Trung Đô, sau thành trấn Nghệ An. Đời nhà Nguyễn
đất này là trấn Nghệ An. Năm Minh Mạng thứ 12, vua
đổi trấn thành tỉnh Nghệ An. Hà Tĩnh cũng là tỉnh sau
trở thành một đạo của Nghệ An.
Sông Lam, núi Hồng, huyện Nam Đàn, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
12
13
Từ những thế kỷ trước, Nghệ An là vùng
biên viễn của nước Đại Việt, cũng là nơi dân tộc
ta đi tiếp cuộc hành trình mở mang bờ cõi về phương
Nam. Vì thế, ca dao xưa có câu:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Xa trung tâm, nên sự quản lý, ràng buộc của nhà nước
Đại Việt đối với vùng đất này còn khá lỏng lẻo. Suốt
cả một thời gian dài, các triều đại phong kiến chưa đủ
sức quản lý chặt chẽ và giữ vững an ninh trật tự ở vùng
đất này. Các cộng đồng cư dân ở đây phần lớn phải tự
bảo vệ cho sự bình yên của mình. Mặc khác, do thường
xuyên phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt nên con
người nơi đây phải vươn lên bằng sức mạnh của ý chí và
nghị lực để tồn tại, phát triển. Tất cả những yếu tố đó đã
tạo nên nét “gia phong” của người Nghệ An.
Nghệ An mang nhiều nét chung, tiêu biểu của đất
nước, dân tộc, song con người ở xứ sở sông Lam, núi
Hồng cũng có những nét riêng, những đặc điểm của
“xứ Nghệ”. Nhà sử học Phan Huy Chú nhìn thấy ở đây
không chỉ là vùng “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm,
nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa chuộng
học hành”. Trong sách Đại Nam nhất thống chí của triều
Nguyễn đã mô tả, đây là địa phương có “núi cao sông
rộng, phong tục thuần hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất
danh tiếng hơn cả Nam châu. Người thì thuận hoà mà chăm
học, sản vật thì nhiều thứ quý lạ... Được khí tốt của núi sông
nên sinh ra nhiều bậc danh hiền...”.
Nhân dân Nghệ An giàu truyền thống lao động sản
xuất, đấu tranh chống ngoại xâm. Nghệ An, Hà Tĩnh là
nơi sản sinh ra nhiều anh hùng trong đấu tranh chống
Bắc thuộc, là hậu phương, căn cứ vững chắc trong các
cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâm
lược. Khi tạm rời kinh thành Thăng Long, vượt biển vào
phía Nam để chuẩn bị lực lượng phản công quân Mông
Nguyên lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông đã viết
lên đuôi thuyền rồng hai câu thơ:
Cối kê cựu sự quân tu ký
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh
Có nghĩa là:
Chuyện cũ cối kê người nên nhớ
Hoan châu, Diễn châu vẫn còn 10 vạn binh.
Trong kháng chiến chống quân Minh, trong phong trào
Tây Sơn, vùng đất Nghệ An đóng góp nhiều vào cuộc
đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước. Trong phong
trào chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nghệ An
đã giương cao ngọn cờ Cần Vương chống Pháp.
Nghệ An là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, là nơi hội
tụ nhiều anh hùng, chiến sĩ như năm 722, Mai Thúc
Loan đã lấy vùng này để lập căn cứ khởi nghĩa chống
ách đô hộ nhà Đường; đây cũng chính là quê tổ của
anh em nhà Nguyễn Huệ (thuộc xã Hưng Đạo, huyện
14
15
Hưng Nguyên); Phan Bội Châu, một sĩ phu,
nhà yêu nước lớn nửa đầu thế kỷ XX. Ngoài ra
còn có những anh hùng hào kiệt như trên núi Chung
có đền thờ Nguyễn Đắc Đài, một danh tướng đời Trần
có công đánh giặc ngoại xâm; nơi đây cũng là nơi Tú
tài Vương Thúc Mậu (1822 – 1886) lập đội “Chung nghĩa
binh”, dựng cờ Cần Vương chống Pháp... Và đặc biệt,
vùng đất này đã sinh ra vị lãnh tụ, anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh.
Với tất cả những truyền thống tốt đẹp ấy, Nghệ An
trở thành một cái nôi nuôi dưỡng, hun đúc nơi cậu bé
Nguyễn Sinh Cung (tên Bác Hồ hồi nhỏ) một tấm lòng
nhân ái, tình yêu quê hương, lòng yêu nước, thương
dân... để sau này đi đến hành động cứu nước. Khi
nhận xét về mảnh đất truyền thống này, đồng chí Lê
Duẩn đã nói: “Trong nước ta hàng ngàn năm nay, Nghệ
Tĩnh là nơi xây dựng cơ sở chống ngoại xâm giữ vững
nước nhà. Khi nào phía Bắc mất, người ta lại vào đây
xây dựng lực lượng, xây dựng sức mạnh để giải phóng
cả nước. Do cơ sở vị trí truyền thống đó mà chúng ta
không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinh trưởng
những lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Cái đó không phải
tình cờ mà do lịch sử tự nhiên, lịch sử lâu đời, lịch sử
xây dựng kiến thiết đất nước đã hun đúc lại Nghệ Tĩnh,
nhân dân anh dũng, cần cù lao động, có nhiều năng lực
phi thường”1 .
1 Theo Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr. 17-18.
?
Xin cho biết vài nét về quê nội của Bác Hồ?
Quê cha Bác Hồ ở làng Kim Liên thuộc xã Chung
Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Xã Chung Cự gồm có 7 làng là: Kim Liên, Hoàng Trù,
Ngọc Đình, Vân Hội, Tỉnh Lý, Cường Kỵ, Khoa Cử. Cả
7 làng nằm xung quanh núi Chung.
Là vùng “đất văn vật, chốn thi thư”, người dân ở đây
có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt nhưng
là vùng đất nghèo nên người dân phải lao động chân
tay rất vất vả vì “có thực mới vực được đạo”. Ngoài làm
ruộng còn có làm thêm nhiều nghề khác như dệt vải,
đan lát hoặc sơn tràng, kiếm củi, đốt than v.v...
Xưa kia vùng này được gọi là Trại Sen với những địa
danh toàn tên sen như: Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu,
Giếng Sen, Đầm Sen, Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen v.v...
Sen đã tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên
làng có tên gọi là làng Sen.
Núi Chung là một ngọn núi không cao, có tầm quan
sát cả vùng. Đây là một thắng cảnh của Nam Đàn và
cũng là một di tích lịch sử. Trên núi có đền thờ Nguyễn
Đắc Đài, một danh tướng thời Trần có công đánh giặc.
Năm 1886, khi thực dân Pháp đến xâm lược, tú tài
Vương Thúc Mậu, người làng Kim Liên đã lập đội
Chung nghĩa binh đánh giặc.
Phía Tây có núi Hùng Sơn (rú Đụn) đồ sộ. Nơi đây có
thành Vạn An và đền thờ Mai Hắc Đế để tưởng nhớ người
16
17
Ngôi nhà quê nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống cùng gia đình
ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
anh hùng đã chống quân xâm lược nhà Đường năm 722.
Phía tây nam là dãy núi Thiên Nhẫn trùng trùng điệp
điệp. Nơi đây có thành Lục Niên, một trong những bản
doanh của nghĩa quân Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước.
Phía Đông có núi Lam Thành với ba ngọn Triều
Khẩu, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam
chế của sông Lam, một thời từng làm chỗ đứng cho lỵ
sở Hoan Châu.
Phía Bắc là dãy núi Đại Vạc, Đại Huệ, là nơi Hồ Quý
Ly và Hồ Hán Thương chọn xây thành lũy trong cuộc
chiến chống quân Minh xâm lược. Dưới Đại Huệ là dãy
Đại Hải, nơi có mộ tổ của Nguyễn Huệ. Ông đã chọn
Nghệ Tĩnh để xây dựng Phượng Hoàng trung đô dưới
chân núi Dũng Quyết thuộc thành phố Vinh.
Nghệ Tĩnh còn là quê hương của các nhà cách mạng
yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Lê
Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Trần Phú, Nguyễn Thị
Minh Khai và xa hơn nữa dưới chân núi Hồng Lĩnh
là quê hương của Nguyễn Công Trứ và đại thi hào
Nguyễn Du. Đất nước, núi sông quê hương của Bác Hồ
gắn bó chặt chẽ với lịch sử nước nhà.
Tuy là vùng đất sản sinh ra nhiều con người ưu tú
như vậy nhưng khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không hề
được thiên nhiên ưu đãi. Đất đai thì cằn cỗi, nhiều nơi
là đồng chua nước mặn, khí hậu khắc nghiệt. Thiên
nhiên đã rèn luyện cho con người nơi đây sự cần cù,
siêng năng để đấu tranh với thiên nhiên giành giật từng
củ khoai, hạt lúa. Nhân dân đã có câu ca dao:
“Muốn ăn thì phải chăm làm
Một hạt thóc vàng chín hạt mồ hôi”
Thiên nhiên càng khắc nghiệt thì con người càng
phải nghị lực, dẻo dai, bền bỉ. Cuộc sống đã rèn luyện
cho con người nơi đây nghị lực, sự kiên cường, dũng
cảm trong chiến đấu.
Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
Bố Đức v.v... Hát phường vải là cuộc thử trí thi tài giữa
nam và nữ. Điều này khiến cho người dân nơi đây,
18
19
nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt chữ song
lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
thường, trọng nghĩa khí.
Vùng Kim Liên quê nội Bác Hồ nổi tiếng có truyền
thống hiếu học. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vùng
Nam Đàn có bốn người học giỏi nổi tiếng được mệnh
danh là “tứ hổ” thì làng Kim Liên đã có 3 người là
Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương và Nguyễn Sinh
Sắc, còn Phan Bội Châu là người ở làng Đan Nhiệm.
Ngày 16-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm
lại quê cha sau 50 năm xa cách. Tại đây, Người đã thăm
lại những kỷ vật gắn bó thân thiết thuở còn niên thiếu,
Bác đã hỏi thăm giếng Cốc, lò rèn Cố Điền là những
nơi Người thường ra gánh nước, thổi bể, rèn đồ chơi
thuở nhỏ. Ngày 9-12-1961, Bác lại về thăm xã Kim Liên
lần thứ hai.
?
Bạn biết gì về quê ngoại Bác Hồ?
Quê
ngoại Bác Hồ chính là nơi Người cất tiếng
khóc chào đời – làng Hoàng Trù (hay còn gọi là làng
Chùa), chung một xã Chung Cự với quê nội (làng Kim
Ngôi nhà quê ngoại, nơi sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Liên), tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An. Chính nơi đây, bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của
Người - đã được sinh ra và lớn lên bởi truyền thống của
họ Hoàng mà cha là cụ Hoàng Đường – có tiếng là nhân
từ, trọng nghĩa tình, sống gần gũi với nhân dân. Theo
gia phả họ Hoàng, chi nhánh ở làng Chùa có nguồn gốc
là làng Hoàng Vân, tổng Yên Lạc, huyện Kim Động,
tỉnh Hưng Yên.
Chính vì vậy mà trước nhà thờ họ Hoàng (thuộc khu
di tích Kim Liên) có đôi câu đối:
“Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ
Chung Cự hùng thanh chấn ức niên”
Đại ý là: Hoàng Vân khí tốt truyền từ nghìn xưa lại.
Chung Cự tiếng hùng vọng đến vạn năm sau.
20
21
Dòng họ này xưa kia có nhiều người học giỏi,
làm quan to, con người chân chất, mộc mạc. Và
cũng chính ở nơi này Nguyễn Sinh Cung đã lớn lên
trong tình thương yêu đùm bọc của ông bà, cha mẹ,
và dì An; được học những bài học đầu tiên về đạo làm
người, về đức nhân từ ở bà ngoại, ở những ông hát xẩm,
những người bạn đèn sách của cha...
Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
Bố Đức v.v... Do nghề bông vải nên hát phường vải là
hình thức sinh hoạt tinh thần rất phổ biến tại đây. Đêm
đêm, trai gái trong vùng thường quay xa, kéo sợi và
Khung cửi mà bà Hoàng Thị Loan dùng để dệt vải.
hát với nhau, có khi thâu đêm suốt sáng. Sự phát triển
của loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này khiến cho
người dân nơi đây, nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt
chữ song lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
thường, trọng nghĩa khí. Bà Hoàng Thị Loan, mẹ Bác
và bà Hoàng Thị An, dì của Bác cũng là những người
hát hay nổi tiếng ở Chung Cự.
Ông bà ngoại của Bác sinh ra trong gia đình Nho
học. Cụ ông là một nhà Nho, mở lớp dạy học tại nhà, cụ
bà làm ruộng là chính, khi rảnh rỗi cụ cùng hai cô con
gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm thêm nghề
dệt vải. Nhà của ông bà ngoại Bác Hồ là một ngôi nhà
gỗ năm gian, lợp tranh. Khi tác hợp cho Nguyễn Sinh
Sắc và Hoàng Thị Loan, hai cụ đã làm một ngôi nhà ba
gian đầu góc vườn phía Tây để cho hai con ở. Bác Hồ
đã sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà ba gian này.
Ngày 9-12-1961, sau hơn 60 năm xa cách, Chủ tịch Hồ
Chí Minh mới về thăm lại ngôi nhà tranh, nơi Người cất
tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu của tuổi ấu
thơ. Có thể nói, vùng đất này không những đã chứng kiến
giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, ghi lại những kỷ
22
23
niệm êm đẹp, thân thương trong những năm đầu
của tuổi ấu thơ, mà còn chứng kiến sự kiện Người
về thăm quê năm 1961 sau bao nhiêu năm bôn ba hải
ngoại tìm đường cứu nước, xa cách quê hương.
?
Nghệ An là vùng đất có truyền thống lao động cần cù, chăm
học và giàu lòng yêu nước, anh dũng đấu tranh chống ngoại
xâm, trong đó Kim Liên nổi tiếng là đất hiếu học, có nhiều người
đỗ đạt, hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và giải phóng
dân tộc. Những truyền thống này đã ảnh có hưởng đến cậu bé
Nguyễn Sinh Cung như thế nào?
Nghệ
An vốn là “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần
kiệm, nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa
chuộng học hành...”1 nên được “gọi là đất danh tiếng
hơn cả năm châu... sinh ra nhiều bậc danh hiền...”2 .
Trong đó, Kim Liên cũng nổi tiếng là đất hiếu học có
truyền thống lao động cần cù và giàu lòng yêu nước.
Từ năm 1635-1890, trong 96 kỳ thi hương, có 82 thí sinh
làng Kim Liên và làng Hoàng Trù đỗ tú tài và Cử nhân
Vương Thúc Mậu là nhà nho yêu nước, một lãnh tụ
trong phong trào Cần Vương.
Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo yêu
nước, có nguồn gốc nông dân, Nguyễn Sinh Cung đã
nhận được sự giáo dục tốt đẹp, đặc biệt là lòng nhân ái,
tình yêu quê hương Tổ quốc. Từ sớm, cậu Cung được
1 Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 121.
2 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, phần “Dư địa chí”, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, tr. 65.
chứng kiến cảnh sống nghèo khổ của người dân bị áp
bức, bóc lột, muốn tìm hiểu vì sao có cảnh ngang trái
ấy, nhất là lúc vào sống tại kinh thành Huế.
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của quê hương,
cậu thiếu niên giàu lòng thương người này đã dần dần
nhen nhóm và hình thành lòng yêu nước, ý thức cứu
nước để sau này đi đến hành động cứu nước. Lòng
căm thù bọn thống trị, mong muốn giải thoát nhân dân
thoát khỏi ách nô dịch, đói nghèo được nảy sinh và lớn
lên từ truyền thống dân tộc, quê hương, do ảnh hưởng
giáo dục của gia đình và hiện thực cuộc đời nô lệ. Vì
vậy, Louis Arnoux – Chánh mật thám Đông Dương
những năm đầu thế kỷ XX – đã có lý khi nhận xét rằng
cuộc đời này của Nguyễn Tất Thành “đã bắt đầu trong
không khí bất công, oán hận và phẫn nộ căm thù chống
lại nước Pháp”1.
Có thể nói, trong thời gian sống ở làng Sen, Nguyễn
Tất Thành (tên mới của Nguyễn Sinh Cung) đã chịu
ảnh hưởng rất nhiều từ cha ruột của mình - ông
Nguyễn Sinh Sắc. Ông là người ủng hộ phái Nho giáo
yêu nước. Ông tìm mọi cách làm cho con cái mình thấm
nhuần tư tưởng yêu nước ấy. Cụ rất thích kể cho con cái
nghe những câu chuyện mang tính chất giáo huấn tiếp
thu được từ trong quá khứ của Tổ quốc, giảng giải cho
con cái hiểu những câu châm ngôn và cách ngôn của
1 Dẫn theo Phan Ngọc Liên – Trịnh Vương Hồng, Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế, Nxb.
Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 12.
24
25
các bậc hiền triết cổ xưa có tư tưởng gần gũi với
tư tưởng của cụ. Chính nhờ ảnh hưởng quý báu
đó nên tuy cũng nghiền ngẫm sách vở Nho giáo như
thanh thiếu niên khác, nhưng Nguyễn Tất Thành lại
hấp thụ một hệ thống quan điểm chính trị – tư tưởng
hơi khác, có thể nói đó là một biến thể độc đáo của
Nho giáo đã được chắt lọc và thấm nhuần chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam.
Cần nói rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh đã sớm nhận
thức được hiện thực xã hội nước ta lúc bấy giờ và tìm
câu trả lời cho các vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống:
“Những nguyên nhân nào sinh ra các hiện tượng áp
bức, bất công này? Phải làm gì để cứu nước, giúp đỡ
đồng bào”. Tất cả những câu trả lời này đều được thể
hiện ở hành động của Người. Ngay từ khi còn tuổi niên
thiếu, Nguyễn Tất Thành đã có các hoạt động yêu nước.
Năm 1906, lúc đó mới 16 tuổi, người thanh niên này đã
“tham gia công tác bí mật nhận công tác liên lạc”. Song
đến năm 1908, Người mới thực sự hoạt động cứu nước,
khi tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân
Thừa Thiên. Tuy nhiên, cái chí của người thanh niên
giàu lòng yêu nước này không phải là làm cậu ấm con
quan, mà chỉ lấy nơi đây làm chỗ trú chân tạm thời trên
cuộc hành trình cứu nước. Vì vậy, khi được tin cha bị
triều đình bãi chức, Nguyễn Tất Thành quyết định tiếp
tục đi vào phương Nam để tìm đường cứu nước.
?
Cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác Hồ là một nhà nho
yêu nước, có nhân cách đáng quý. Hãy cho biết vài nét về nhân
vật này?
Cụ
thân sinh của Bác Hồ là cụ Nguyễn Sinh Sắc,
hiệu là Trí Hiếu, Trí Đễ, khi vào thi hội cải là Nguyễn
Sinh Huy, về sau lấy diệt danh Nguyễn Xuân Sắc,
Nguyễn Phan Diêu. Ông sinh năm 18621 tại làng Kim
Liên, thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông sống
với người anh cùng cha khác mẹ. Không được học hành
nhưng ông rất ham học. Tuy phải chăn trâu nhưng mỗi
khi qua cổng lớp học của thầy đồ Vương Thúc Mậu là
ông thường mải mê nghe giảng rồi tập viết vào nền
đất, lá cây.
Có thầy Hoàng Đường ở làng Chùa hay đến làng Sen
chơi cùng thầy Vương Thúc Mậu, thấy cậu bé chăn trâu
ham học, biết hoàn cảnh gia đình nên xin về nuôi dạy.
Từ đó, ông được đi học. Vài năm sau, khi trình độ học
vấn đã khá, ông Hoàng Đường đã cho Sinh Sắc theo
học thầy Nguyễn Thức Tự, một người nổi tiếng uyên
bác, ông Sắc trở thành người học giỏi có tiếng vào hàng
nhất nhì ở làng Sen.
1 Về năm sinh của ông Nguyễn Sinh Sắc, trước đây có sách ghi là năm 1863 nhưng các văn bản
của triều Nguyễn bổ nhiệm ông, cũng như danh sách trúng tuyển kỳ thi Hội năm Thành Thái thứ
13 đều ghi ông sinh năm Nhâm Tuất (1862). Theo hồ sơ A.3780 của Tòa Khâm sứ Trung Kỳ
ngày 21-1-1920 gửi Sở Mật thám trung ương thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương thì Nguyễn
Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) sinh năm 1862 (Nhâm Tuất). Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết:
ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng mất (7-1864). Từ đó
chúng tôi đã chọn năm 1862 là ngày sinh của ông Sắc.
26
27
Được mọi người
trong làng yêu mến
vì vừa học giỏi, vừa lễ độ,
cụ Hoàng Đường đã gả cô
con gái lớn của mình là
Hoàng Thị Loan cho Sinh
Sắc. Năm 1883, lễ cưới
được tổ chức tại làng Chùa.
Khoa thi Hương năm Tân
Mão 1891, ông chỉ đậu nhị
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929)
thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
trường. Sau khi cha vợ mất,
ông mở lớp dạy tại nhà và
ôn luyện để chuẩn bị đi thi.
Khoa thi Hương năm Giáp Ngọ (1894), ông đậu cử nhân.
Năm 1895, ông dự kỳ thi Hội khoa Ất Mùi nhưng
không đậu. Sau đó, ông đã đưa gia đình vào Huế sinh
sống để ông yên tâm lo bề khoa cử. Cuộc sống khó
khăn của gia đình phải trông nhờ vào sự đảm đang lo
toan của bà Loan. Bà tiếp tục dệt vải để nuôi con, nuôi
chồng ăn học. Ông được nhận vào học tại Quốc Tử
Giám để ôn luyện chờ khoa thi sau.
Năm 1898, ông Sắc trượt khoa thi Hội, ông không
còn là nho sinh tại Quốc Tử Giám nên cũng không được
nhận học bổng của trường. Qua người bạn, ông Sắc đã
tìm được chỗ dạy học tại nhà ông Nguyễn Sĩ Độ ở làng
Dương Nỗ, huyện Phú Vang. Ông đem hai con Nguyễn
Sinh
Khiêm
và
Nguyễn Sinh Cung
theo đến đây ở để
vừa dạy học vừa dạy
chữ cho con, còn bà
Loan vẫn ở lại Huế.
Bà con trong làng
và các vùng lân cận
nghe tiếng ông hay
chữ đã cho con em
đến học ngày càng
Nơi học tập của ông Nguyễn Sinh Sắc.
đông. Học trò thuộc
nhiều lứa tuổi khác
nhau, tuy bận rộn với việc dạy học nhưng ông vẫn ôn
luyện chờ khoa thi sau. Hàng tháng, ông vẫn xin dự
thính bình văn ở trường Quốc Tử Giám.
Năm Canh Tý 1900, ông Sắc được cử đi làm đề lại
(thư ký) cho trường thi Hương Thanh Hóa. Tại Huế, vợ
ông đã mất sau khi sinh con thứ tư. Sinh Cung tuổi còn
nhỏ phải chăm em chờ cha và anh về. Sau cái chết của
vợ, ông Sắc đưa con trở về quê mở lớp dạy học để nuôi
con. Nhiều người xa gần nghe tiếng của ông đã gửi con
đến nhờ ông dạy dỗ.
Được sự động viên của bà con, nghĩ đến sự hi sinh của
vợ và ơn nghĩa của cha mẹ vợ, ông quyết tâm vào Huế
dự thi Hội lần nữa. Tại khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901,
28
29
Nguyễn Sinh Sắc (lúc này lấy tên là Nguyễn
Sinh Huy) đậu Phó bảng. Sau khi về quê vinh
quy bái tổ, từ 1901 - 1906, Nguyễn Sinh Sắc không trở lại
Kinh chờ lệnh bổ hàm. Mâu thuẫn trong lòng ông thực
ra cũng là điều trăn trở của nhiều sĩ phu thời bấy giờ. Ba
mươi năm dùi mài kinh sử mới đỗ đạt thế nhưng rồi ông
chần chừ không muốn ra làm quan. Làm quan thì mới
lo lắng được cho gia đình, nuôi dạy các con và phụng
dưỡng người mẹ vợ đã già. Đây cũng là con đường ông
đã chọn để đáp lại tấm lòng của cha mẹ vợ, của người
vợ đã tận tình lo lắng cho ông suốt bao nhiêu năm. Thế
nhưng, thân phận của người dân mất nước cùng sự nhốn
nháo chốn quan trường lúc này làm cho ông trăn trở.
Ông đã chọn cách cáo ốm để không ra nhận chức. Ông
dùng thời gian này đưa hai con đi nhiều nơi trong các
tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh dạy học và giao du với các sĩ
phu. Nhờ đó mà dù còn nhỏ nhưng Nguyễn Tất Thành
đã được đi nhiều nơi, thấy được nhiều cảnh đời khác
nhau, cảm nhận được sự nghèo khổ của nhân dân và
nỗi nhục mất nước, được tiếp xúc với nhiều nhà nho yêu
nước và những suy nghĩ, trăn trở của họ về thời cuộc từ
đó mở rộng tầm mắt hơn.
Cuối cùng, không thể trì hoãn hơn được nữa, tháng
5-1906, ông Sắc đưa hai con trai đến Huế để nhậm chức.
Tại đây, ông làm việc cho Bộ Lễ. Năm 1909, triều đình
bổ nhiệm ông làm Thừa biện Bộ ...
 





