TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Website Trường Tiểu học Đức Giang 🌟 Chào mừng quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh đến với website chính thức của Trường Tiểu học Đức Giang – nơi kết nối tri thức, lan tỏa yêu thương và đồng hành cùng hành trình giáo dục bền vững. Tại đây, mọi thông tin về hoạt động dạy – học, phong trào thi đua, tài liệu tham khảo và các thành tựu nổi bật của nhà trường đều được cập nhật kịp thời, khoa học, dễ tra cứu. Website không chỉ là kênh truyền thông hiệu quả, mà còn là cầu nối tri thức số, góp phần nuôi dưỡng tư duy sáng tạo và tình yêu học tập cho thế hệ học sinh tiểu học hôm nay. Hãy cùng khám phá để cảm nhận tinh thần đổi mới, sự tận tâm của đội ngũ giáo viên và không khí học tập tích cực đang lan tỏa nơi ngôi trường thân yêu này!

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg ClipartKey_191402.png Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    💕💕 Sách không chỉ dạy ta kiến thức, mà còn dạy ta cách làm người💕Mỗi trang sách là một hạt giống, gieo vào tâm trí người đọc những mầm xanh bất tận💕

    50 năm thiên anh hùng ca giải phóng | Vũ Kim Yến

    79 câu hỏi - đáp thời niên thiếu của Bác

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 23h:04' 22-09-2024
    Dung lượng: 3.3 MB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    79 CÂU HỎI ĐÁP VỀ
    THỜI NIÊN THIẾU CỦA BÁC HỒ

    trần nam tiến CHỦ BIêN

    79 câu hỏi đáp

    về thời niên thiếu
    của Bác hồ

    nhà xuất bản Trẻ

    Biên soạn: nhóm nhân văn trẻ



    4



    - TRẦN NAM TIẾN (Chủ biên)



    - TRẦN VĂN PHƯƠNG



    - Nguyễn thị minh thúy



    - NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

    5

    LỜI NÓI ĐẦU
    Trong lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước
    của dân tộc ta qua nhiều thời kỳ khác nhau, thời kỳ
    nào cũng có những anh hùng hào kiệt, làm vẻ vang cho
    non sông đất nước ta. Hồ Chí Minh – Người được toàn
    dân ta gọi bằng cái tên thân kính “Bác Hồ” – là một
    trong những vị anh hùng vĩ đại trong lịch sử đấu tranh
    giành độc lập, tự do cho dân tộc; Người còn là một nhà
    tư tưởng lớn của thời đại, một danh nhân văn hóa Việt
    Nam và thế giới. Nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá
    nhân đã nghiên cứu và viết về cuộc đời và sự nghiệp
    cách mạng của Người. Thế nhưng, riêng phần quãng
    đời thời niên thiếu của Bác Hồ thì rất ít tài liệu ghi chép
    lại được, vì lúc sinh thời Bác Hồ ít khi nói về mình.
    Ngoài Nghệ An là quê hương của Bác, cố đô Huế
    là nơi Bác đã sống qua lâu nhất – cả hai lần gần mười
    năm. Quãng đời thời niên thiếu có một ảnh hưởng nhất
    định trong việc hình thành tư tưởng yêu nước và cách
    mạng của Bác. Hoàn cảnh xã hội và sự hun đúc của
    gia đình đã tạo cho Bác sớm có những biểu hiện khác
    thường về trí thông minh và lòng yêu nước – những

    dấu hiệu đầu tiên của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn
    Hồ Chí Minh sau này.
    “Hồ Chí Minh là hiện thân của dân tộc Việt Nam và
    mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch”
    (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Với tinh thần yêu
    nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã
    bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân, thành bại của
    các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi
    tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
    Lật lại những trang sách viết về cuộc đời và sự
    nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thêm hiểu,
    thêm yêu vị lãnh tụ vô cùng đáng kính, đáng tự hào
    của dân tộc Việt Nam. Chưa có một vị lãnh tụ nào trên
    thế giới lại được ngay cả nhân dân của các nước “đối
    đầu” với mình cũng kính trọng và yêu mến như Bác
    Hồ của chúng ta. Nhiều nhà báo nước ngoài đã dành
    cho Người những dòng đầy kính nể, như trong một
    cuốn sách của nhà báo người Pháp Jean Lacouture viết
    năm 1967 có nội dung: “...Trên thế giới hiện nay không có
    lãnh tụ nào đối với nhân dân của mình vừa là người phát
    sinh, vừa là người bảo vệ, vừa là nguồn gốc, vừa là phương
    hướng, vừa là tư tưởng, vừa là thực hành; vừa là dân tộc,
    vừa là cách mạng; vừa là người “Bác” nhân hậu, vừa là vị
    tướng cầm quân...”.
    Hơn thế nữa, các tổ chức trên thế giới cũng dành cho
    Người những dòng đầy tôn kính: “...Chủ tịch Hồ Chí

    6

    7

    Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của
    cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự
    nghiệp giải phóng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
    chủ và tiến bộ xã hội.
    ...Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ
    Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật
    là kết tinh truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam và
    những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng
    của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của
    mình và tiêu biểu cho sự hiểu biết lẫn nhau...” (Nghị quyết
    của tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp
    quốc (UNESCO) về kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của
    Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vị anh hùng giải phóng dân
    tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn”).
    Vì vậy, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch
    Hồ Chí Minh, chúng ta càng hiểu rõ hơn lịch sử đất
    nước, kính yêu những người có công xây dựng, bảo vệ
    Tổ quốc, phấn đấu cho sự tiến bộ của thế giới. Từ đó,
    xác định nhiệm vụ đối với hiện tại và tương lai, noi
    gương các tiền nhân trong công cuộc đấu tranh cách
    mạng ngày nay. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ có
    tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục thế hệ trẻ vững
    tin vào con đường mà Người đã chọn. Tư tưởng Hồ
    Chí Minh – một di sản vô cùng quý báu của Người để
    lại cho dân tộc ta và nhân loại – vẫn còn giá trị qua các
    thời đại tiếp sau.

    Bộ sách “Hỏi đáp về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ
    tịch Hồ Chí Minh” tuy chưa phải là một công trình
    khoa học về tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song
    được trình bày trên cơ sở tài liệu khoa học theo trình
    tự thời gian, qua đó khắc họa khá đầy đủ cuộc đời của
    Người với những hoạt động lớn, những công lao nổi
    bật. Bộ sách được trình bày dưới dạng những câu hỏi
    đáp gọn gàng, sinh động giúp người đọc dễ tra cứu. Bộ
    sách vừa có tính chất phổ biến kiến thức khoa học lịch
    sử, vừa đóng góp vào việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ
    Chí Minh. Vì vậy sách có thể phục vụ nhiều đối tượng,
    các cán bộ làm công tác khoa học, giáo dục, tuyên huấn.
    Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành biên soạn,
    nhưng do khả năng có hạn, nhất là chưa có điều kiện
    khảo sát tận nơi những sự kiện, tài liệu gốc còn lưu
    trữ... Vì vậy, chắc chắn bộ sách không tránh khỏi
    còn những khiếm khuyết chưa khắc phục ngay được.
    Chúng tôi chân thành mong mỏi nhận được nhiều ý
    kiến đóng góp của bạn đọc xa gần.
    nhà xuất bản Trẻ

    8

    9
    ?

    “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã
    sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và
    chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non
    sông đất nước ta”1 . Có thể nói, nhân cách Hồ Chí Minh đã sớm
    được hình thành từ thời niên thiếu. Hãy cho biết đôi nét về thời
    niên thiếu của Bác Hồ?

    Bác

    Hồ lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh

    ngày 19-5-1890 tại quê mẹ là làng Hoàng Trù
    (còn gọi là làng Chùa). Nguyễn Sinh Cung sinh ra
    khi đất nước đã mất hoàn toàn về tay thực dân Pháp.
    Nhiều cuộc nổi dậy chống Pháp đã nổ ra nhưng đều
    lần lượt thất bại. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Sinh
    Cung đã lớn lên trong cái nôi gia đình đầy tình yêu
    thương đùm bọc của ông bà, cha mẹ và dì An.
    Cha là Nguyễn Sinh Sắc tức Nguyễn Sinh Huy
    (1862-1929) - một nhà nho yêu nước. Ông là người làng
    Kim Liên thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện
    Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Kim Liên, huyện
    Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mẹ của Người là bà Hoàng
    Thị Loan (1868-1901) chuyên làm nghề nông và dệt vải.
    Bà là con của cụ đồ Hoàng Đường, người ở làng Hoàng
    Trù cách làng Kim Liên khoảng 2km.
    Gia đình Bác Hồ có 4 anh chị em. Chị gái là bà
    Nguyễn Thị Thanh (còn có tên là Nguyễn Thị Bạch
    Liên (1884-1954), người anh trai của bác là Nguyễn Sinh
    1. Trích Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu
    trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình.

    Khiêm (1888-1950),
    Bác Hồ tên lúc còn nhỏ
    là Nguyễn Sinh Cung
    (tiếng địa phương gọi
    là Côông). Người em
    của Bác là Nguyễn
    Sinh Xin (1900-1901)
    đã mất khi còn nhỏ.
    Sau khi ông Nguyễn
    Sinh Sắc thi đậu Phó
    bảng năm 1901, theo
    Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

    tập quán địa phương,
    ông đã tổ chức lễ “Vào

    làng” và đổi tên cho hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm
    thành Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Sinh Cung thành
    Nguyễn Tất Thành.
    Năm 1895, Bác cùng anh theo cha mẹ vào Huế để
    ông Sắc ôn luyện đi thi. Vừa học, ông vừa dạy kèm cho
    hai con. Vì thế, người thầy đầu tiên và có ảnh hưởng
    quan trọng đến Bác Hồ cũng chính là cha của Người.
    Ngoài ra trong khoảng thời gian từ 1901 đến 1905 khi
    còn ở quê nhà, những lúc cha bận, Bác cũng được theo
    học với các thầy đồ khác có tiếng trong vùng là Hoàng
    Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, và Trần Thân.
    Năm 1906, Bác Hồ theo học tại trường Tiểu học
    Pháp – Việt Đông Ba tại Huế. Ở đây, lần đầu tiên

    10

    11

    Bác đã được biết đến những từ “Tự do, Bình
    đẳng, Bác ái”. Tháng 9-1907, Người vào học tại
    trường Quốc học Huế. Năm 1908, do tham gia cuộc
    biểu tình của phong trào xin xâu và chống thuế của
    nông dân Thừa Thiên, Bác bị trường Quốc học buộc
    thôi học. Người bắt đầu con đường đi vào phía Nam.
    Tháng 9-1909, Bác Hồ đến Quy Nhơn thăm cha và
    theo học tiếng Pháp với thầy Phạm Ngọc Thọ. Năm
    1910, trên đường vào Sài Gòn, Bác dừng lại tại Phan
    Thiết và dạy học ở trường Dục Thanh môn chữ Hán
    và thể dục. Không lâu sau đó, Bác rời Phan Thiết để
    đến Sài Gòn.
    Tháng 2-1911, Bác Hồ - Nguyễn Tất Thành đến
    Sài Gòn. Bác đã xin vào làm và học tại trường
    đào tạo công nhân kỹ thuật. Với ước mơ đi sang
    phương Tây xem các nước tư bản như thế nào để về
    giúp dân mình, Bác đã xin làm việc trên chiếc tàu
    L'Admiral Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp
    nhất (Charguers Réunis) của Pháp mà người dân
    thường gọi là hãng Năm Sao (vì trên ống khói của
    tàu có vẽ hình năm ngôi sao). Ngày 5-6-1911, tàu
    L'Admiral Latouche Tréville rời cảng Nhà Rồng, rời
    Việt Nam bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu
    nước của Bác. Từ đây bắt đầu một trang mới của
    người chiến sĩ cách mạng quốc tế mang tên Nguyễn
    Ái Quốc - Hồ Chí Minh...

    ?

    Tỉnh Nghệ An - quê hương của Bác Hồ - là một vùng đất có
    truyền thống yêu nước lâu đời, đã hun đúc cho Bác lòng yêu
    nước từ thuở còn thơ. Xin cho biết vài nét về vùng đất này?

    Nghệ An là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hoá và
    truyền thống cách mạng lâu đời. Với vị trí chiến lược
    quan trọng, Nghệ An luôn là “phên dậu của nước
    nhà”, là “thành đồng ao nóng”, là “then khoá của mọi
    thời đại”.
    Đất Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ
    của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc, Đường Cao Tông
    đổi tên nước ta là An Nam Đô Hộ Phủ, đất này thành
    Châu Hoan, Châu Diễn, gồm 11 huyện. Đời vua Trần
    Duệ Tông (1372-1377), đổi Châu Hoan thành Nghệ An.
    Đời Vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đổi lộ Nghệ An
    thành trấn Lâm An. Sang đến nhà Lê, đây là đạo Tây
    Hải, rồi gọi là Nghệ An thừa tuyên. Thời Tây Sơn đặt
    là Trung Đô, sau thành trấn Nghệ An. Đời nhà Nguyễn
    đất này là trấn Nghệ An. Năm Minh Mạng thứ 12, vua
    đổi trấn thành tỉnh Nghệ An. Hà Tĩnh cũng là tỉnh sau
    trở thành một đạo của Nghệ An.

    Sông Lam, núi Hồng, huyện Nam Đàn, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    12

    13

    Từ những thế kỷ trước, Nghệ An là vùng
    biên viễn của nước Đại Việt, cũng là nơi dân tộc
    ta đi tiếp cuộc hành trình mở mang bờ cõi về phương
    Nam. Vì thế, ca dao xưa có câu:
    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
    Xa trung tâm, nên sự quản lý, ràng buộc của nhà nước
    Đại Việt đối với vùng đất này còn khá lỏng lẻo. Suốt
    cả một thời gian dài, các triều đại phong kiến chưa đủ
    sức quản lý chặt chẽ và giữ vững an ninh trật tự ở vùng
    đất này. Các cộng đồng cư dân ở đây phần lớn phải tự
    bảo vệ cho sự bình yên của mình. Mặc khác, do thường
    xuyên phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt nên con
    người nơi đây phải vươn lên bằng sức mạnh của ý chí và
    nghị lực để tồn tại, phát triển. Tất cả những yếu tố đó đã
    tạo nên nét “gia phong” của người Nghệ An.
    Nghệ An mang nhiều nét chung, tiêu biểu của đất
    nước, dân tộc, song con người ở xứ sở sông Lam, núi
    Hồng cũng có những nét riêng, những đặc điểm của
    “xứ Nghệ”. Nhà sử học Phan Huy Chú nhìn thấy ở đây
    không chỉ là vùng “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm,
    nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa chuộng
    học hành”. Trong sách Đại Nam nhất thống chí của triều
    Nguyễn đã mô tả, đây là địa phương có “núi cao sông
    rộng, phong tục thuần hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất
    danh tiếng hơn cả Nam châu. Người thì thuận hoà mà chăm

    học, sản vật thì nhiều thứ quý lạ... Được khí tốt của núi sông
    nên sinh ra nhiều bậc danh hiền...”.
    Nhân dân Nghệ An giàu truyền thống lao động sản
    xuất, đấu tranh chống ngoại xâm. Nghệ An, Hà Tĩnh là
    nơi sản sinh ra nhiều anh hùng trong đấu tranh chống
    Bắc thuộc, là hậu phương, căn cứ vững chắc trong các
    cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâm
    lược. Khi tạm rời kinh thành Thăng Long, vượt biển vào
    phía Nam để chuẩn bị lực lượng phản công quân Mông
    Nguyên lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông đã viết
    lên đuôi thuyền rồng hai câu thơ:
    Cối kê cựu sự quân tu ký
    Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh
    Có nghĩa là:
    Chuyện cũ cối kê người nên nhớ
    Hoan châu, Diễn châu vẫn còn 10 vạn binh.
    Trong kháng chiến chống quân Minh, trong phong trào
    Tây Sơn, vùng đất Nghệ An đóng góp nhiều vào cuộc
    đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước. Trong phong
    trào chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nghệ An
    đã giương cao ngọn cờ Cần Vương chống Pháp.
    Nghệ An là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, là nơi hội
    tụ nhiều anh hùng, chiến sĩ như năm 722, Mai Thúc
    Loan đã lấy vùng này để lập căn cứ khởi nghĩa chống
    ách đô hộ nhà Đường; đây cũng chính là quê tổ của
    anh em nhà Nguyễn Huệ (thuộc xã Hưng Đạo, huyện
    14

    15

    Hưng Nguyên); Phan Bội Châu, một sĩ phu,
    nhà yêu nước lớn nửa đầu thế kỷ XX. Ngoài ra
    còn có những anh hùng hào kiệt như trên núi Chung
    có đền thờ Nguyễn Đắc Đài, một danh tướng đời Trần
    có công đánh giặc ngoại xâm; nơi đây cũng là nơi Tú
    tài Vương Thúc Mậu (1822 – 1886) lập đội “Chung nghĩa
    binh”, dựng cờ Cần Vương chống Pháp... Và đặc biệt,
    vùng đất này đã sinh ra vị lãnh tụ, anh hùng dân tộc,
    danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh.
    Với tất cả những truyền thống tốt đẹp ấy, Nghệ An
    trở thành một cái nôi nuôi dưỡng, hun đúc nơi cậu bé
    Nguyễn Sinh Cung (tên Bác Hồ hồi nhỏ) một tấm lòng
    nhân ái, tình yêu quê hương, lòng yêu nước, thương
    dân... để sau này đi đến hành động cứu nước. Khi
    nhận xét về mảnh đất truyền thống này, đồng chí Lê
    Duẩn đã nói: “Trong nước ta hàng ngàn năm nay, Nghệ
    Tĩnh là nơi xây dựng cơ sở chống ngoại xâm giữ vững
    nước nhà. Khi nào phía Bắc mất, người ta lại vào đây
    xây dựng lực lượng, xây dựng sức mạnh để giải phóng
    cả nước. Do cơ sở vị trí truyền thống đó mà chúng ta
    không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinh trưởng
    những lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Cái đó không phải
    tình cờ mà do lịch sử tự nhiên, lịch sử lâu đời, lịch sử
    xây dựng kiến thiết đất nước đã hun đúc lại Nghệ Tĩnh,
    nhân dân anh dũng, cần cù lao động, có nhiều năng lực
    phi thường”1 .
    1 Theo Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr. 17-18.

    ?

    Xin cho biết vài nét về quê nội của Bác Hồ?

    Quê cha Bác Hồ ở làng Kim Liên thuộc xã Chung
    Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
    nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
    Xã Chung Cự gồm có 7 làng là: Kim Liên, Hoàng Trù,
    Ngọc Đình, Vân Hội, Tỉnh Lý, Cường Kỵ, Khoa Cử. Cả
    7 làng nằm xung quanh núi Chung.
    Là vùng “đất văn vật, chốn thi thư”, người dân ở đây
    có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt nhưng
    là vùng đất nghèo nên người dân phải lao động chân
    tay rất vất vả vì “có thực mới vực được đạo”. Ngoài làm
    ruộng còn có làm thêm nhiều nghề khác như dệt vải,
    đan lát hoặc sơn tràng, kiếm củi, đốt than v.v...
    Xưa kia vùng này được gọi là Trại Sen với những địa
    danh toàn tên sen như: Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu,
    Giếng Sen, Đầm Sen, Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen v.v...
    Sen đã tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên
    làng có tên gọi là làng Sen.
    Núi Chung là một ngọn núi không cao, có tầm quan
    sát cả vùng. Đây là một thắng cảnh của Nam Đàn và
    cũng là một di tích lịch sử. Trên núi có đền thờ Nguyễn
    Đắc Đài, một danh tướng thời Trần có công đánh giặc.
    Năm 1886, khi thực dân Pháp đến xâm lược, tú tài
    Vương Thúc Mậu, người làng Kim Liên đã lập đội
    Chung nghĩa binh đánh giặc.
    Phía Tây có núi Hùng Sơn (rú Đụn) đồ sộ. Nơi đây có
    thành Vạn An và đền thờ Mai Hắc Đế để tưởng nhớ người

    16

    17

    Ngôi nhà quê nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống cùng gia đình
    ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

    anh hùng đã chống quân xâm lược nhà Đường năm 722.
    Phía tây nam là dãy núi Thiên Nhẫn trùng trùng điệp
    điệp. Nơi đây có thành Lục Niên, một trong những bản
    doanh của nghĩa quân Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam
    Sơn, đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước.
    Phía Đông có núi Lam Thành với ba ngọn Triều
    Khẩu, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam
    chế của sông Lam, một thời từng làm chỗ đứng cho lỵ
    sở Hoan Châu.
    Phía Bắc là dãy núi Đại Vạc, Đại Huệ, là nơi Hồ Quý
    Ly và Hồ Hán Thương chọn xây thành lũy trong cuộc
    chiến chống quân Minh xâm lược. Dưới Đại Huệ là dãy
    Đại Hải, nơi có mộ tổ của Nguyễn Huệ. Ông đã chọn

    Nghệ Tĩnh để xây dựng Phượng Hoàng trung đô dưới
    chân núi Dũng Quyết thuộc thành phố Vinh.
    Nghệ Tĩnh còn là quê hương của các nhà cách mạng
    yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Lê
    Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Trần Phú, Nguyễn Thị
    Minh Khai và xa hơn nữa dưới chân núi Hồng Lĩnh
    là quê hương của Nguyễn Công Trứ và đại thi hào
    Nguyễn Du. Đất nước, núi sông quê hương của Bác Hồ
    gắn bó chặt chẽ với lịch sử nước nhà.
    Tuy là vùng đất sản sinh ra nhiều con người ưu tú
    như vậy nhưng khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không hề
    được thiên nhiên ưu đãi. Đất đai thì cằn cỗi, nhiều nơi
    là đồng chua nước mặn, khí hậu khắc nghiệt. Thiên
    nhiên đã rèn luyện cho con người nơi đây sự cần cù,
    siêng năng để đấu tranh với thiên nhiên giành giật từng
    củ khoai, hạt lúa. Nhân dân đã có câu ca dao:
    “Muốn ăn thì phải chăm làm
    Một hạt thóc vàng chín hạt mồ hôi”
    Thiên nhiên càng khắc nghiệt thì con người càng
    phải nghị lực, dẻo dai, bền bỉ. Cuộc sống đã rèn luyện
    cho con người nơi đây nghị lực, sự kiên cường, dũng
    cảm trong chiến đấu.
    Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
    thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
    hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
    Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
    Bố Đức v.v... Hát phường vải là cuộc thử trí thi tài giữa
    nam và nữ. Điều này khiến cho người dân nơi đây,
    18

    19

    nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt chữ song
    lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
    đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
    có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
    truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
    xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
    đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
    thường, trọng nghĩa khí.
    Vùng Kim Liên quê nội Bác Hồ nổi tiếng có truyền
    thống hiếu học. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vùng
    Nam Đàn có bốn người học giỏi nổi tiếng được mệnh
    danh là “tứ hổ” thì làng Kim Liên đã có 3 người là
    Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương và Nguyễn Sinh
    Sắc, còn Phan Bội Châu là người ở làng Đan Nhiệm.
    Ngày 16-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm
    lại quê cha sau 50 năm xa cách. Tại đây, Người đã thăm
    lại những kỷ vật gắn bó thân thiết thuở còn niên thiếu,
    Bác đã hỏi thăm giếng Cốc, lò rèn Cố Điền là những
    nơi Người thường ra gánh nước, thổi bể, rèn đồ chơi
    thuở nhỏ. Ngày 9-12-1961, Bác lại về thăm xã Kim Liên
    lần thứ hai.
    ?

    Bạn biết gì về quê ngoại Bác Hồ?

    Quê

    ngoại Bác Hồ chính là nơi Người cất tiếng

    khóc chào đời – làng Hoàng Trù (hay còn gọi là làng
    Chùa), chung một xã Chung Cự với quê nội (làng Kim

    Ngôi nhà quê ngoại, nơi sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
    ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

    Liên), tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
    An. Chính nơi đây, bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của
    Người - đã được sinh ra và lớn lên bởi truyền thống của
    họ Hoàng mà cha là cụ Hoàng Đường – có tiếng là nhân
    từ, trọng nghĩa tình, sống gần gũi với nhân dân. Theo
    gia phả họ Hoàng, chi nhánh ở làng Chùa có nguồn gốc
    là làng Hoàng Vân, tổng Yên Lạc, huyện Kim Động,
    tỉnh Hưng Yên.
    Chính vì vậy mà trước nhà thờ họ Hoàng (thuộc khu
    di tích Kim Liên) có đôi câu đối:
    “Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ
    Chung Cự hùng thanh chấn ức niên”
    Đại ý là: Hoàng Vân khí tốt truyền từ nghìn xưa lại.
    Chung Cự tiếng hùng vọng đến vạn năm sau.

    20

    21

    Dòng họ này xưa kia có nhiều người học giỏi,
    làm quan to, con người chân chất, mộc mạc. Và
    cũng chính ở nơi này Nguyễn Sinh Cung đã lớn lên
    trong tình thương yêu đùm bọc của ông bà, cha mẹ,
    và dì An; được học những bài học đầu tiên về đạo làm
    người, về đức nhân từ ở bà ngoại, ở những ông hát xẩm,
    những người bạn đèn sách của cha...
    Nét độc đáo nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tinh
    thần của Nam Đàn là hát phường vải. Quê hương của
    hát phường vải là các làng ven núi Chung: Kim Liên,
    Hoàng Trù, Ngọc Đình, Tịnh Lý, Nguyệt Quả, Bố Ân,
    Bố Đức v.v... Do nghề bông vải nên hát phường vải là
    hình thức sinh hoạt tinh thần rất phổ biến tại đây. Đêm
    đêm, trai gái trong vùng thường quay xa, kéo sợi và

    Khung cửi mà bà Hoàng Thị Loan dùng để dệt vải.

    hát với nhau, có khi thâu đêm suốt sáng. Sự phát triển
    của loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này khiến cho
    người dân nơi đây, nhất là phụ nữ tuy không thuộc mặt
    chữ song lại thông hiểu về nghĩa lý của chữ, đôi khi đạt
    đến mức độ sâu sắc. Ngoài hát phường vải, nơi đây còn
    có các làn điệu hát dặm, hát ví đò đưa. Truyện cổ tích,
    truyền kỳ, ca dao, tục ngữ cũng góp phần nuôi dưỡng,
    xây dựng tâm hồn lãng mạn tích cực cho con người nơi
    đây, giúp họ coi thường hiểm nguy và vật chất tầm
    thường, trọng nghĩa khí. Bà Hoàng Thị Loan, mẹ Bác
    và bà Hoàng Thị An, dì của Bác cũng là những người
    hát hay nổi tiếng ở Chung Cự.
    Ông bà ngoại của Bác sinh ra trong gia đình Nho
    học. Cụ ông là một nhà Nho, mở lớp dạy học tại nhà, cụ
    bà làm ruộng là chính, khi rảnh rỗi cụ cùng hai cô con
    gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm thêm nghề
    dệt vải. Nhà của ông bà ngoại Bác Hồ là một ngôi nhà
    gỗ năm gian, lợp tranh. Khi tác hợp cho Nguyễn Sinh
    Sắc và Hoàng Thị Loan, hai cụ đã làm một ngôi nhà ba
    gian đầu góc vườn phía Tây để cho hai con ở. Bác Hồ
    đã sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà ba gian này.
    Ngày 9-12-1961, sau hơn 60 năm xa cách, Chủ tịch Hồ
    Chí Minh mới về thăm lại ngôi nhà tranh, nơi Người cất
    tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu của tuổi ấu
    thơ. Có thể nói, vùng đất này không những đã chứng kiến
    giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, ghi lại những kỷ

    22

    23

    niệm êm đẹp, thân thương trong những năm đầu
    của tuổi ấu thơ, mà còn chứng kiến sự kiện Người
    về thăm quê năm 1961 sau bao nhiêu năm bôn ba hải
    ngoại tìm đường cứu nước, xa cách quê hương.
    ?

    Nghệ An là vùng đất có truyền thống lao động cần cù, chăm
    học và giàu lòng yêu nước, anh dũng đấu tranh chống ngoại
    xâm, trong đó Kim Liên nổi tiếng là đất hiếu học, có nhiều người
    đỗ đạt, hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và giải phóng
    dân tộc. Những truyền thống này đã ảnh có hưởng đến cậu bé
    Nguyễn Sinh Cung như thế nào?

    Nghệ

    An vốn là “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần

    kiệm, nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa
    chuộng học hành...”1  nên được “gọi là đất danh tiếng
    hơn cả năm châu... sinh ra nhiều bậc danh hiền...”2 .
    Trong đó, Kim Liên cũng nổi tiếng là đất hiếu học có
    truyền thống lao động cần cù và giàu lòng yêu nước.
    Từ năm 1635-1890, trong 96 kỳ thi hương, có 82 thí sinh
    làng Kim Liên và làng Hoàng Trù đỗ tú tài và Cử nhân
    Vương Thúc Mậu là nhà nho yêu nước, một lãnh tụ
    trong phong trào Cần Vương.
    Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo yêu
    nước, có nguồn gốc nông dân, Nguyễn Sinh Cung đã
    nhận được sự giáo dục tốt đẹp, đặc biệt là lòng nhân ái,
    tình yêu quê hương Tổ quốc. Từ sớm, cậu Cung được
    1 Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 121.
    2 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, phần “Dư địa chí”, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, tr. 65.

    chứng kiến cảnh sống nghèo khổ của người dân bị áp
    bức, bóc lột, muốn tìm hiểu vì sao có cảnh ngang trái
    ấy, nhất là lúc vào sống tại kinh thành Huế.
    Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của quê hương,
    cậu thiếu niên giàu lòng thương người này đã dần dần
    nhen nhóm và hình thành lòng yêu nước, ý thức cứu
    nước để sau này đi đến hành động cứu nước. Lòng
    căm thù bọn thống trị, mong muốn giải thoát nhân dân
    thoát khỏi ách nô dịch, đói nghèo được nảy sinh và lớn
    lên từ truyền thống dân tộc, quê hương, do ảnh hưởng
    giáo dục của gia đình và hiện thực cuộc đời nô lệ. Vì
    vậy, Louis Arnoux – Chánh mật thám Đông Dương
    những năm đầu thế kỷ XX – đã có lý khi nhận xét rằng
    cuộc đời này của Nguyễn Tất Thành “đã bắt đầu trong
    không khí bất công, oán hận và phẫn nộ căm thù chống
    lại nước Pháp”1.
    Có thể nói, trong thời gian sống ở làng Sen, Nguyễn
    Tất Thành (tên mới của Nguyễn Sinh Cung) đã chịu
    ảnh hưởng rất nhiều từ cha ruột của mình - ông
    Nguyễn Sinh Sắc. Ông là người ủng hộ phái Nho giáo
    yêu nước. Ông tìm mọi cách làm cho con cái mình thấm
    nhuần tư tưởng yêu nước ấy. Cụ rất thích kể cho con cái
    nghe những câu chuyện mang tính chất giáo huấn tiếp
    thu được từ trong quá khứ của Tổ quốc, giảng giải cho
    con cái hiểu những câu châm ngôn và cách ngôn của
    1 Dẫn theo Phan Ngọc Liên – Trịnh Vương Hồng, Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế, Nxb.
    Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 12.

    24

    25

    các bậc hiền triết cổ xưa có tư tưởng gần gũi với
    tư tưởng của cụ. Chính nhờ ảnh hưởng quý báu
    đó nên tuy cũng nghiền ngẫm sách vở Nho giáo như
    thanh thiếu niên khác, nhưng Nguyễn Tất Thành lại
    hấp thụ một hệ thống quan điểm chính trị – tư tưởng
    hơi khác, có thể nói đó là một biến thể độc đáo của
    Nho giáo đã được chắt lọc và thấm nhuần chủ nghĩa
    yêu nước Việt Nam.
    Cần nói rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh đã sớm nhận
    thức được hiện thực xã hội nước ta lúc bấy giờ và tìm
    câu trả lời cho các vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống:
    “Những nguyên nhân nào sinh ra các hiện tượng áp
    bức, bất công này? Phải làm gì để cứu nước, giúp đỡ
    đồng bào”. Tất cả những câu trả lời này đều được thể
    hiện ở hành động của Người. Ngay từ khi còn tuổi niên
    thiếu, Nguyễn Tất Thành đã có các hoạt động yêu nước.
    Năm 1906, lúc đó mới 16 tuổi, người thanh niên này đã
    “tham gia công tác bí mật nhận công tác liên lạc”. Song
    đến năm 1908, Người mới thực sự hoạt động cứu nước,
    khi tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân
    Thừa Thiên. Tuy nhiên, cái chí của người thanh niên
    giàu lòng yêu nước này không phải là làm cậu ấm con
    quan, mà chỉ lấy nơi đây làm chỗ trú chân tạm thời trên
    cuộc hành trình cứu nước. Vì vậy, khi được tin cha bị
    triều đình bãi chức, Nguyễn Tất Thành quyết định tiếp
    tục đi vào phương Nam để tìm đường cứu nước.

    ?

    Cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác Hồ là một nhà nho
    yêu nước, có nhân cách đáng quý. Hãy cho biết vài nét về nhân
    vật này?

    Cụ

    thân sinh của Bác Hồ là cụ Nguyễn Sinh Sắc,

    hiệu là Trí Hiếu, Trí Đễ, khi vào thi hội cải là Nguyễn
    Sinh Huy, về sau lấy diệt danh Nguyễn Xuân Sắc,
    Nguyễn Phan Diêu. Ông sinh năm 18621  tại làng Kim
    Liên, thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam
    Đàn, tỉnh Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông sống
    với người anh cùng cha khác mẹ. Không được học hành
    nhưng ông rất ham học. Tuy phải chăn trâu nhưng mỗi
    khi qua cổng lớp học của thầy đồ Vương Thúc Mậu là
    ông thường mải mê nghe giảng rồi tập viết vào nền
    đất, lá cây.
    Có thầy Hoàng Đường ở làng Chùa hay đến làng Sen
    chơi cùng thầy Vương Thúc Mậu, thấy cậu bé chăn trâu
    ham học, biết hoàn cảnh gia đình nên xin về nuôi dạy.
    Từ đó, ông được đi học. Vài năm sau, khi trình độ học
    vấn đã khá, ông Hoàng Đường đã cho Sinh Sắc theo
    học thầy Nguyễn Thức Tự, một người nổi tiếng uyên
    bác, ông Sắc trở thành người học giỏi có tiếng vào hàng
    nhất nhì ở làng Sen.
    1 Về năm sinh của ông Nguyễn Sinh Sắc, trước đây có sách ghi là năm 1863 nhưng các văn bản
    của triều Nguyễn bổ nhiệm ông, cũng như danh sách trúng tuyển kỳ thi Hội năm Thành Thái thứ
    13 đều ghi ông sinh năm Nhâm Tuất (1862). Theo hồ sơ A.3780 của Tòa Khâm sứ Trung Kỳ
    ngày 21-1-1920 gửi Sở Mật thám trung ương thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương thì Nguyễn
    Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) sinh năm 1862 (Nhâm Tuất). Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết:
    ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng mất (7-1864). Từ đó
    chúng tôi đã chọn năm 1862 là ngày sinh của ông Sắc.

    26

    27

    Được mọi người
    trong làng yêu mến
    vì vừa học giỏi, vừa lễ độ,
    cụ Hoàng Đường đã gả cô
    con gái lớn của mình là
    Hoàng Thị Loan cho Sinh
    Sắc. Năm 1883, lễ cưới
    được tổ chức tại làng Chùa.
    Khoa thi Hương năm Tân
    Mão 1891, ông chỉ đậu nhị
    Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929)
    thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    trường. Sau khi cha vợ mất,
    ông mở lớp dạy tại nhà và
    ôn luyện để chuẩn bị đi thi.

    Khoa thi Hương năm Giáp Ngọ (1894), ông đậu cử nhân.
    Năm 1895, ông dự kỳ thi Hội khoa Ất Mùi nhưng
    không đậu. Sau đó, ông đã đưa gia đình vào Huế sinh
    sống để ông yên tâm lo bề khoa cử. Cuộc sống khó
    khăn của gia đình phải trông nhờ vào sự đảm đang lo
    toan của bà Loan. Bà tiếp tục dệt vải để nuôi con, nuôi
    chồng ăn học. Ông được nhận vào học tại Quốc Tử
    Giám để ôn luyện chờ khoa thi sau.
    Năm 1898, ông Sắc trượt khoa thi Hội, ông không
    còn là nho sinh tại Quốc Tử Giám nên cũng không được
    nhận học bổng của trường. Qua người bạn, ông Sắc đã
    tìm được chỗ dạy học tại nhà ông Nguyễn Sĩ Độ ở làng
    Dương Nỗ, huyện Phú Vang. Ông đem hai con Nguyễn

    Sinh

    Khiêm



    Nguyễn Sinh Cung
    theo đến đây ở để
    vừa dạy học vừa dạy
    chữ cho con, còn bà
    Loan vẫn ở lại Huế.
    Bà con trong làng
    và các vùng lân cận
    nghe tiếng ông hay
    chữ đã cho con em
    đến học ngày càng
    Nơi học tập của ông Nguyễn Sinh Sắc.

    đông. Học trò thuộc
    nhiều lứa tuổi khác

    nhau, tuy bận rộn với việc dạy học nhưng ông vẫn ôn
    luyện chờ khoa thi sau. Hàng tháng, ông vẫn xin dự
    thính bình văn ở trường Quốc Tử Giám.
    Năm Canh Tý 1900, ông Sắc được cử đi làm đề lại
    (thư ký) cho trường thi Hương Thanh Hóa. Tại Huế, vợ
    ông đã mất sau khi sinh con thứ tư. Sinh Cung tuổi còn
    nhỏ phải chăm em chờ cha và anh về. Sau cái chết của
    vợ, ông Sắc đưa con trở về quê mở lớp dạy học để nuôi
    con. Nhiều người xa gần nghe tiếng của ông đã gửi con
    đến nhờ ông dạy dỗ.
    Được sự động viên của bà con, nghĩ đến sự hi sinh của
    vợ và ơn nghĩa của cha mẹ vợ, ông quyết tâm vào Huế
    dự thi Hội lần nữa. Tại khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901,

    28

    29

    Nguyễn Sinh Sắc (lúc này lấy tên là Nguyễn
    Sinh Huy) đậu Phó bảng. Sau khi về quê vinh
    quy bái tổ, từ 1901 - 1906, Nguyễn Sinh Sắc không trở lại
    Kinh chờ lệnh bổ hàm. Mâu thuẫn trong lòng ông thực
    ra cũng là điều trăn trở của nhiều sĩ phu thời bấy giờ. Ba
    mươi năm dùi mài kinh sử mới đỗ đạt thế nhưng rồi ông
    chần chừ không muốn ra làm quan. Làm quan thì mới
    lo lắng được cho gia đình, nuôi dạy các con và phụng
    dưỡng người mẹ vợ đã già. Đây cũng là con đường ông
    đã chọn để đáp lại tấm lòng của cha mẹ vợ, của người
    vợ đã tận tình lo lắng cho ông suốt bao nhiêu năm. Thế
    nhưng, thân phận của người dân mất nước cùng sự nhốn
    nháo chốn quan trường lúc này làm cho ông trăn trở.
    Ông đã chọn cách cáo ốm để không ra nhận chức. Ông
    dùng thời gian này đưa hai con đi nhiều nơi trong các
    tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh dạy học và giao du với các sĩ
    phu. Nhờ đó mà dù còn nhỏ nhưng Nguyễn Tất Thành
    đã được đi nhiều nơi, thấy được nhiều cảnh đời khác
    nhau, cảm nhận được sự nghèo khổ của nhân dân và
    nỗi nhục mất nước, được tiếp xúc với nhiều nhà nho yêu
    nước và những suy nghĩ, trăn trở của họ về thời cuộc từ
    đó mở rộng tầm mắt hơn.
    Cuối cùng, không thể trì hoãn hơn được nữa, tháng
    5-1906, ông Sắc đưa hai con trai đến Huế để nhậm chức.
    Tại đây, ông làm việc cho Bộ Lễ. Năm 1909, triều đình
    bổ nhiệm ông làm Thừa biện Bộ ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách mỗi ngày là cách ta nuôi dưỡng trí tuệ và nuôi dưỡng tâm hồn."

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC GIANG - HÀ NỘI !