50 năm thiên anh hùng ca giải phóng | Vũ Kim Yến
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 53- Đàng Trong suy tàn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 13h:21' 23-11-2024
Dung lượng: 5.7 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 13h:21' 23-11-2024
Dung lượng: 5.7 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Đàng Trong suy tàn / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn. - T.P. Hồ Chí
Minh : Trẻ, 2014.
92tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.53).
1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- 1592-1788. 3. Việt Nam -- Vua và
quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Vietnam -- History -- 1592-1788. 3. Vietnam -- King
and rulers.
959.70272 -- dc 22
Đ182
LỜI GIỚI THIỆU
Chúa Nguyễn Phúc Chú mất, con trưởng của người là Nguyễn
Phúc Khoát lên nối nghiệp lớn. Lúc bấy giờ ở Đàng Trong, vua
Lê chỉ là hư danh, các chúa Trịnh đã xưng vương nên sau khi nối
nghiệp chúa, năm 1744, chúa xưng vương, hiệu Võ vương. Một
trong những công lao lớn của Võ vương chính là hoàn thành công
cuộc Nam tiến đến năm 1757, bờ cõi đất nước đã đến mũi Cà Mau
và vịnh Xiêm La (vịnh Thái Lan).
Cuối đời Võ vương, quyền thần Trương Phúc Loan chuyên
quyền, đổi di chiếu, lập Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là
Định vương để dễ bề thao túng triều chính. Do Định vương còn
nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan,
từ đó nhân dân oán ghét, lòng người ly tán. Mầm suy vong của
Đàng Trong khởi sự từ đây.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 53 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Đàng Trong suy tàn” phần lời do Lê
Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 53 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú băng, Nguyễn Phúc
Khoát lên nối ngôi chúa vào mùa hạ năm Mậu Ngọ
(1738), hiệu Từ Tế đạo nhân, còn gọi là Võ vương hay
chúa Võ. Chúa ở ngôi 27 năm, thọ 52 tuổi, táng tại núi
La Khê, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
Quyền thần Trương Phúc Loan đưa Nguyễn Phúc
Thuần lên ngôi chúa, gọi là Định vương. Định vương
bị bắt trong trận đánh tháng 9 năm Đinh Dậu (1777)
với Tây Sơn ở Long Xuyên (nay là Cà Mau), mất khi
26 tuổi.
4
Nguyễn Phúc Khoát lên nối ngôi chúa lúc 25 tuổi. Hơn mười
năm sau, Pierre Poivre - một thương gia người Pháp - đã có dịp
gặp chúa Võ và ghi lại như sau: “Ngài có vẻ bề ngoài khỏe mạnh
và thân thể vạm vỡ, nét mặt nở nang, đầu xinh, tóc xám và dài,
rậm và giữ rất khéo, trán rộng, tai dài, mắt và lông mày màu đen,
mũi ngắn, râu mép đen và nhiều, miệng so với mặt vừa khéo, cằm
to và râu cằm ít, cổ vững, hai vai và ngực rộng, bụng to và tay
chân béo”(*).
* Hồng Lam – Cardiere, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, Đại Việt Thiên Bản,
Huế, 1944, tr.55-56.
5
Trước đây, ở Đàng Trong, dù không bị chia phối của triều đình
nhà Lê ở Thăng Long nhưng các chúa Nguyễn vẫn luôn xác định
mình là bề tôi nhà Lê và được vua Lê phong tước Quốc công. Từ
thời chúa Nguyễn Phúc Lan, vua Lê không còn phong tước cho
chúa Nguyễn nhưng các chúa Nguyễn vẫn giữ tước hiệu vua Lê
đã phong từ trước.
6
Tin tưởng vào lời sấm “Bát thế hoàn trung đô” (tám đời trở
lại kinh đô) mà Nguyễn Phúc Khoát là đời thứ tám từ khi chúa
Nguyễn Hoàng vào Nam, nên chúa muốn tách rời khỏi Đàng
Ngoài. Năm Giáp Tý (1744), năm khởi đầu của một giáp(*) trong
âm lịch, chúa quyết định xưng vương hiệu.
Ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), chúa Nguyễn Phúc Khoát
xưng vương ở Phú Xuân.
* Một giáp có 60 năm.
7
Chúa cho đúc ấn vương, đồng thời cho đổi cách gọi, cách xưng
hô. Chính dinh gọi là đô thành, đổi phủ (chúa) làm điện, với các
thuộc quốc thì xưng chúa làm Thiên vương. Tước hiệu của các
chúa đã khuất cũng được sửa đổi theo bậc quốc vương. Tuy nhiên,
khi ghi ngày tháng trong văn thư, chúa vẫn dùng niên hiệu vua Lê
phong cho chúa Nguyễn.
8
Võ vương cải tổ, sắp xếp bộ máy chính quyền trung ương thành
bộ máy của một vương triều thực sự. Tên gọi của các cơ quan
chính quyền trung ương cũng được sửa đổi: Ký lục đổi lại thành
bộ Lại, Nha úy làm bộ Lễ, Đô tri làm bộ Hình, Cai bộ phó đoàn
sự làm bộ Hộ. Chúa đặt thêm hai bộ nữa là bộ Hình và bộ Công.
Như thế, triều đình Phú Xuân đã có đủ sáu bộ.
Chúa cũng định lại triều phục của quan lại và đặc biệt bắt dân
chúng thay đổi y phục theo y phục của người Trung Hoa trước
đời Thanh.
9
Lãnh thổ Đàng Trong được tổ chức thành một quốc gia với
12 dinh và 1 trấn, Phú Xuân là kinh đô. Dưới các dinh, trấn có
các đơn vị phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phường... Miền núi và ven
biển còn có thuộc (tương đương tổng). Đứng đầu dinh có chức
Trấn thủ, Cai bạ, Ký lục. Đứng đầu trấn Hà Tiên là Tổng binh. Ở
cấp phủ, huyện có Tri phủ, Tri huyện đứng đầu, cấp xã có Tướng
thần, Xã trưởng.
10
Cũng như những đời trước, quan lại được bổ nhiệm theo cách
tiến cử hoặc thi cử. Năm 1740, Võ vương định lại phép thi: kỳ
đệ nhất thi tứ lục, ai đỗ được miễn sai dịch 5 năm; kỳ đệ nhị thi
thơ phú, kỳ đệ tam thi nghĩa kinh, ai đỗ được miễn sai dịch cả
đời; kỳ đệ tứ thi văn sách, thi đỗ là Hương cống, được bổ làm Tri
phủ, Tri huyện, Huấn đạo. Tuy nhiên, các kỳ thi không được tổ
chức thường xuyên.
11
Nạn mua bán quan chức cũng rất phổ biến ở Đàng Trong. Chúa
Nguyễn quy định để được làm Tướng thần(*) phải nộp 49 quan, để
làm Xã trưởng phải nộp 41 quan. Sách Phủ biên tạp lục ghi lại:
“... do đó mà mọi người tranh nhau nộp tiền lĩnh bằng (được giữ
chức vụ trên), đến nay có chỗ một xã có đến 16 hay 17 Tướng
thần, hơn 20 Xã trưởng đều được làm việc...”(**). Các quan cũng
có thể nộp tiền để được thăng chức, chẳng hạn như năm 1766,
Tướng thần Đoàn Phúc Chiêm đã nộp 664 quan để được thăng
chức Ký phủ.
* Người thu thuế.
** Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1964, tr.156.
12
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, đất đai mở rộng rất nhiều
về phía nam. Để thúc đẩy việc biến đất hoang thành ruộng vườn,
Võ vương đã kêu gọi dân các vùng Thuận Quảng đi đến vùng đất
mới khai phá. Ruộng đất mới được khai
phá sẽ được công nhận là tư điền. Trong
thế kỷ XVIII, người Đàng Trong phải
chịu sưu cao thuế nặng nên có rất
nhiều người nghèo đói. Vì thế,
nhiều người đã rời bỏ quê
hương vào vùng đất mới.
13
Một số người khác lại rời bỏ quê hương vì việc cấm đạo Thiên
Chúa. Họ đến vùng đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long
vì nơi đây việc cấm đạo không quá gắt gao. Các nhóm giáo dân
Thiên Chúa giáo đến định cư nhiều nơi như: Cái Đôi bên bờ sông
Hậu, cù lao Giêng (trên sông Hậu), Lo Ót (hay Bò Ót - thuộc Long
Xuyên ngày nay)...
Chúa Nguyễn cũng kêu gọi người giàu có ở Thuận Quảng mộ
người vào Nam khai khẩn. Những người này, nhờ có vốn liếng
nên đã đóng góp đáng kể vào công cuộc khai khẩn vùng đất mới.
14
Công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng sông, sông Đồng Nai
đã phát triển mạnh. Nơi đây đã xuất hiện những người có nhiều
ruộng đất. Lê Quý Đôn ghi lại: “Người giàu ở các địa phương
hoặc bốn năm mươi nhà hoặc hai ba mươi nhà, mỗi nhà điền nô
hoặc đến năm sáu mươi người, trâu bò hoặc đến ba bốn trăm con,
cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi...”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.381.
15
Người Đàng Trong trồng nhiều giống lúa tẻ, lúa nếp, tùy điều
kiện đất đai và thời tiết. Ở phủ Triệu Phong, nông dân trồng 7
giống lúa nếp, 10 giống lúa tẻ. Ở huyện Minh Linh, người ta trồng
5 giống lúa nếp và 7 giống lúa tẻ. Trong đó, có những giống thời
gian từ cấy đến gặt chỉ 3 tháng, có giống chịu được nước mặn, có
giống chịu đất thấp hoặc loại chịu đất cao, khô ráo...
16
Trên đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long, nông dân cũng
trồng nhiều giống lúa khác nhau, kỹ thuật canh tác cũng đa dạng.
Có loại ruộng người ta cày và cấy, ở loại ruộng bùn sâu, người
nông dân chờ cho ruộng có nhiều nước rồi cắt bỏ đưng lác, cào
cỏ đắp bờ rồi dùng cây chòi lỗ ở đất rồi cấy mạ xuống. Cũng có
loại ruộng ở vùng Bả Canh, Tam Lập (vùng Tiền Giang), người
ta không cần cày bừa, chỉ phát cỏ rồi cấy. Đất ở đây rất tốt, cấy 1
hộc lúa, gặt được 300 hộc.
17
Ở đất Gia Định (Nam Bộ), ngoài lúa gạo ra, người ta còn trồng
nhiều loại cây khác nhau, đặc biệt là cây cau. Ngạn ngữ thời này
có câu: “Gia Định nhất thóc, nhì cau” đã nói lên điều đó. Nông
dân để cau già, lấy hạt bán cho thương nhân người Hoa.
Các loài cây ăn trái được trồng nhiều ở vùng giữa sông Tiền
và sông Hậu (vùng này thường được gọi là miệt vườn).
18
Ở Đàng Trong có nhiều làng nổi tiếng về các sản phẩm thủ
công như xã Phú Trạch, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, các
xã Đại Phước, Tuy Lộc huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình chuyên
làm chiếu; xã Triệu Sơn, huyện Phú Vang phủ Triệu Phong chuyên
làm nón. Giấy sản xuất ở xã Đốc Sơ, huyện Hương Trà và thôn
Trung Chỉ, huyện Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong được làm
bằng vỏ cây gió. Xã Tuy Lộc và Đại Phúc ở huyện Lệ Thủy, phủ
Quảng Bình thì làm giấy bằng vỏ cây niệt, bền và dầy như giấy
lệnh sản xuất ở Thanh Hoa (Đàng Ngoài).
19
Thợ ở hai xã Phan Xá và Hoàng Giang, huyện Khang Lộc, phủ
Quảng Bình giỏi nghề đúc súng. Chúa Nguyễn dùng thợ ở hai xã
này lập nên những đội chuyên đúc súng ở Phú Xuân. Ở bờ nam
sông Hương (Phú Xuân) có phường đúc sản xuất các loại đồ đồng
như súng đồng, nồi, vạc, chảo, đèn... Ngoài ra, thợ ở xã Võng Trì,
huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong chuyên làm các loại cày, cuốc,
rìu, búa,.. Thợ ở xã Mậu Tài, châu Phú Vang, phủ Triệu Phong
khéo nghề làm dây đồng, đồng thau,...
20
Nghề dệt cũng rất phát triển ở Đàng Trong cung cấp nhiều loại
vải lụa để dùng trong nước và bán cho thuyền buôn nước ngoài.
Nhiều vùng chuyên về một vài loại sản phẩm như các xã Sơn Điền,
Dương Xuân, Vạn Xuân ở huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong
chuyên về các loại vóc, sạ, lĩnh, gấm, trừu; xã Bình Xá, Võ Xá,
huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình lại chuyên về lụa,...
21
Đường là một sản phẩm khá nổi tiếng ở Đàng Trong. Các loại
đường đen, đường trắng được sản xuất ở huyện Đăng Xương,
huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong. Đường phổi, đường phèn
là sản phẩm nổi tiếng của phủ Điện Bàn. Thương nhân Pierre
Poivre ghi lại trong hồi ký của mình: “Có thể nói không quá
rằng đường của Đàng Trong chẳng thua kém loại đường tốt
nhất của Ấn Độ và đã thu hút nhiều thương nhân Trung
Quốc đến Hội An mua chở đi bán ở Quảng
Đông, Nhật Bản lãi 400%...”.
22
Người thợ thủ công Đàng
Trong còn biết cả việc sửa máy
móc. Sách Phủ biên tạp lục có ghi
lại chuyện về người thợ sửa đồng
hồ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát có
một chiếc đồng hồ quả lắc tinh xảo
do Tây phương chế tạo. Đồng hồ bị
hư, chúa nhờ Từ Tâm Bá (một người
Tây phương đang được chúa giao cho
việc xem xét các hiện tượng thiên văn)
sửa nhưng y chần chừ mãi mấy năm
không làm. Chúa nhờ một người
thợ Trung Quốc ở Ma Cao sửa giúp
nhưng cũng bị từ chối.
23
Cuối cùng, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Văn Tú sửa
chiếc đồng hồ. Nguyễn Văn Tú lúc nhỏ đã có dịp sang Hà Lan
học hỏi về nghề sửa đồng hồ và kính thiên văn. Không những có
thể sửa được chiếc đồng hồ cho chúa mà ông còn theo cách thức
đó mà chế tạo một chiếc đồng hồ nhỏ hơn, chạy rất chính xác.
Ông về sau làm nghề sửa đồng hồ và chỉ truyền nghề cho những
người trong nhà.
24
Về khai thác quặng mỏ, ở Đàng Trong, hoạt động này không
được chú trọng như ở Đàng Ngoài. Tuy nhiên, một số loại khóang
sản như vàng, sắt cũng được khai thác và đem lại nguồn lợi lớn. Ở
núi Trà Nô, Trà Tế đầu nguồn sông Thu Bồn (Quảng Nam), người
ta: “... tìm thấy mạch [vàng], đào lấy đất, làm nhà để che, chứa đất
thành đống, múc nước dội vào... Rửa đãi một ngày, thường được
vàng vụn đầy một bong bóng trâu, nộp vào trường để nấu đúc”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.248.
25
Lê Quý Đôn cho biết các mỏ vàng này được cấp cho Trương
Phúc Loan làm ngụ lộc. Loan cho người nhà là Án Điện khai thác
hơn 20 năm, vàng được không biết bao nhiêu mà kể. Giang Thuyền
- thông gia của Án Điện - mua một khu núi để khai thác lấy vàng.
Hằng năm, y đem đến Hội An bán không dưới một ngàn hốt vàng.
26
Trong thế kỷ XVIII, ở Đàng Trong, hoạt động buôn bán khá
phát triển. Nhiều khu chợ búa là trung tâm mua bán, trao đổi của
cả một vùng cũng đã hình thành như phủ Thăng Hoa có 6 chợ,
phủ Quy Nhơn có 5 chợ, phủ Diên Khánh có 5 chợ, phủ Gia Định
có 5 chợ,...
27
Việc buôn bán, trao đổi giữa vùng đồng bằng
ven biển và vùng cao nguyên, miền núi được
thực hiện qua các cửa nguồn. Cam Lộ (thuộc
tỉnh Quảng Trị ngày nay) là một trong những
nơi buôn bán đó và có cả đường thông thương
đến nước Lào.
28
Sách Phủ biên tạp lục ghi chép về việc buôn bán đó như sau:
“... người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ
sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt, đến đất người
Man (dân tộc ít người) để đổi lấy hàng hóa, thóc gạo, gà, trâu,
gai sáp, mây, vải... thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có
lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam Lộ để bán... Cũng có phiên
chợ lùa 300 con trâu đến bán, giá 1 con trâu không đến 10 quan,
giá 1 con voi chỉ 2 hốt bạc và 1 khẩu súng nhỏ.”(*)
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.224.
29
Vùng đất Gia Định ngày càng được khai phá, trồng trọt và trở
thành vùng nông nghiệp quan trọng. Đây là vựa lúa của cả Đàng
Trong. Một thương nhân ở Bố Chính (nay là Quảng Bình) thường
vào Gia Định buôn bán cho biết vào tháng 9, tháng 10 âm lịch,
thuyền buôn các xứ Thuận Quảng theo gió bấc (thổi theo hướng
đông bắc - tây nam) vào Gia Định, đến tháng 4, tháng 5 theo gió
nồm (thổi hướng ngược lại) trở về.
30
“Đến xứ Vũng Tàu, đầu cõi Gia Định, hạ buồm đậu vào, hỏi
thăm nơi nào được mùa, nơi nào mất mùa, biết nơi nào được mùa
mới đến... Đến chỗ nào cũng là thuyền buồm tụ họp, mặc cả giá
thành thì người bán hàng tự sai người nhà khuân hàng xuống
thuyền. Một tiền quý mua được 16 đấu thóc... Gạo nếp, gạo tẻ
đều trắng dẻo. Tôm các rất to béo, ăn không hết. Dân địa phương
thường nấu qua rồi phơi khô để bán”(*).
Gia Định có nguồn gỗ phong phú nên các thương nhân Thuận
Quảng thường vào đây đóng thuyền, đem về bán lại.
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.129.
31
Thế kỷ XVII được xem là thời kỳ cực thịnh của ngoại thương
ở Đàng Trong. Sang thế kỷ XVIII, hoạt động thương mại vãng
dần. Năm 1742, công ty Đông - Ấn Pháp phái Pierre Poivre đến
để lập quan hệ mua bán. Nhưng việc buôn bán không được thuận
lợi nên thương gia này bỏ đi và bắt theo một thông dịch viên
người Việt. Việc đó đã khiến Võ vương tức giận, ra lệnh cấm đạo
Thiên Chúa, đuổi các cha cố ra khỏi xứ. Chỉ có cha cố J.Koffker
đang làm bác sĩ cho chúa được ở lại. Sau đó, người Pháp mang
trả người thông dịch viên và cố gắng nối lại việc buôn bán nhưng
không thành công.
32
Số lượng thuyền buôn đến Đàng Trong trong những năm
1740-1750 vào khoảng 60 đến 80 chiếc mỗi năm, đã sụt giảm
xuống còn 16 chiếc vào năm 1771 và 8 chiếc vào năm 1773.
Quan hệ giao thương giữa Đàng Trong và các nước bị thu hẹp.
Số thuyền buôn đến Đàng Trong giờ đây phần nhiều là thuyền
buôn Trung Quốc.
33
Về tiền tệ, trước đây, Đàng Trong tiêu dùng các loại tiền đồng
đúc ở Trung Quốc do các thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản
mang đến. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cũng cho đúc tiền đồng
Thái Bình thông bảo để sử dụng trong nước. Tuy nhiên, người
dân thường đem tiền đồng nấu chảy để đúc thành các vật dụng.
Vì thế, số tiền đồng trong nước ngày càng hao hụt.
34
Năm 1746, Võ vương nghe theo lời khuyên của một người
Hoa cho mua kẽm trắng của người Tây phương đúc tiền. Cục đúc
tiền được lập ở Lương Quán thuộc tổng Kim Long, huyện Hương
Trà, phủ Triệu Phong để đúc tiền kẽm. Nhờ đó, tiền tệ lưu
thông trong cả nước không thiếu hụt như trước. Chúa
nghiêm cấm dân chúng tự đúc tiền và cho thu hồi
dần tiền đồng về chứa trong kho.
35
Sau đó, chúa cho những người có quyền thế được mở lò đúc
tiền để kiếm lời vì chỉ bỏ ra 8 quan tiền mua kẽm về đúc ra tiền,
trừ hết chi phí còn được 20 quan. Tiền này mang tên Thiên Minh
thông bảo. Thêm vào đó, lại có nhiều người đúc trộm tiền vì việc
đúc tiền kẽm không cần kỹ thuật cao. Loại tiền này vừa mỏng lại
vừa xấu vì người ta dùng kẽm pha chì.
36
Dân chúng chê không tiêu dùng tiền kẽm làm giá trị đồng tiền
sụt giảm trầm trọng, xảy ra nạn tiền hoang. Lúc đầu, một đồng
tiền kẽm có giá trị bằng ba đồng tiền đồng. Sau đó, phải ba đồng
tiền kẽm mới ăn một đồng tiền đồng, người ta còn chọn bỏ những
đồng tiền kẽm quá mỏng, xấu. Vật giá vì thế tăng vọt. Năm 1748,
chúa phải ra lệnh bắt buộc dân chúng phải tiêu dùng đồng tiền
đúc bằng kẽm trắng, ai chọn lựa tiền thì bị tội.
37
Nho sĩ Ngô Thế Lân đã tâu với Võ vương về việc đúc tiền
kẽm: “... lợi đúc tiền kẽm lại gấp đôi lợi khác, mà không có cái
lo về lam sơn chướng khí, hùm beo, sóng gió kình ngạc... Cho
nên từ khi việc đúc trộm tiền kẽm ở Ba Xắc (Sóc Trăng ngày nay)
hoành hành thì giá thóc ở Gia Định cao vọt là bởi kẻ đúc trộm
tiền kẽm được lợi rất nhiều, nếu chở đi nơi khác thì lộ việc gian,
nên không kể hàng đắt rẻ, đều tùy tiện mua lấy, giá thóc bèn nhân
đó mà đắt lên...”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.329-330.
38
Nạn tiền hoang khiến cho người có thóc, nhất là các địa chủ ở
Gia Định tích trữ thóc gạo không bán ra. Vì thế, các vùng Quảng
Nam, Thuận Hóa bị thiếu gạo ăn.
Ngoài loại tiền do chúa Nguyễn đúc, trấn Hà Tiên được chúa
cho phép đúc loại tiền riêng để nhân dân tiêu dùng. Đó là tiền
đồng Thái Bình thông bảo và An Pháp nguyên bảo.
Tiền Thái Bình thông bảo
bằng kẽm
Tiền Thái Bình thông bảo
bằng đồng
39
Cuộc sống dân chúng Đàng Trong cơ cực không chỉ vì nạn tiền
hoang mà còn vì sưu cao thuế nặng. Ngoài các loại thuế chính
như thuế đinh, thuế điền... dân còn phải nộp thêm rất nhiều loại
thuế phụ, lễ vật như gạo điền mẫu, tiền cung đốn, tiền gạo ngụ
lộc cho quan thu thuế, tiền nộp thóc vào kho, tiền khoán khố để
sữa chữa kho, tiền cót tre để làm kho, tiền bao mây để chứa thóc,
tiền dầu đèn, tiền trầu cau,...
40
Thuế khóa ngày càng nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa
của chúa và các quan lại. Võ vương cho xây dựng rất nhiều cung
điện tại Phú Xuân cho xứng tầm một đế đô. Có mấy vạn ngôi nhà
được xây cất bằng các loại gỗ quý. Các quan lại cũng bắt chước
như thế mà đua đòi xa hoa.
41
Các loại thuế rất phức tạp, việc thu thuế chi li là môi trường
tốt để các quan thu thuế nhũng lạm. Các quan lại Đàng Trong
không được nhà nước cấp lương mà được cấp lộc điền để cày cấy
nhưng chủ yếu là họ được cấp cho một số dân (gọi là dân ngụ
lộc). Những người này phải nộp tiền, gạo cho quan để thay cho
thuế đinh và lao dịch.
42
Thêm nữa, số quan lại ở Đàng Trong rất nhiều. Lê Quý Đôn
nhận xét: “... tính trong cả xứ, quan bản đường chính ngạch vẫn
nhiều, đặt thừa quá lạm, Tướng thần, Xã trưởng nhiều gấp đôi,
không thể kể xiết”, “Quảng Nam, Thuận Hóa chỉ hai trấn thôi
mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng kể có hàng
nghìn, nhũng lạm quá lắm. Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân
chịu sao được”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.154, 155.
43
Sự nhũng lạm của quan lại lên đến cùng cực dưới đời chúa
Nguyễn Phúc Thuần. Chúa tin dùng Thái phó Trương Phúc Loan
và Hữu trung cơ Nguyễn Nghiễm là những kẻ tham lam vô độ.
Trương Phúc Loan được hưởng ngụ lộc rất lớn, số thu hằng năm
lên đến bốn năm vạn quan(*) và các nguồn lợi khác thu vào ba
bốn vạn quan nữa.
* 1 quan = 10 tiền = 600 đồng.
44
Tuy thế, Loan vẫn tìm cách cướp của dân, ngay cả những món
vặt vãnh. Để nấu bữa ăn thịnh soạn cho gia đình Loan, mỗi ngày
Loan chỉ phát cho đầu bếp 4 tiền. Vì thế, bọn tôi tớ ra chợ ức hiếp
mua rẻ của dân. Không ai dám chống lại vì sợ bị hại.
Tài sản Loan vơ vét được rất lớn. Có lần nước lụt, những rương
hòm của cải tại dinh thự Phấn Dương bị ướt, người nhà phải đem
vàng ra phơi. Vàng để đầy chiếu mây, sáng lòa cả sân.
45
Lúc bấy giờ, nhiều đại thần, tôn thất oán giận Trương Phúc
Loan, tìm cách loại trừ y nên sai người giả mạo bức thư Loan
thông đồng với Nguyễn Nhạc và lấy trộm ấn của Loan đóng vào
thư đem bỏ ở phủ đường. Có người nhặt được, dâng Chưởng cơ
Tôn Thất Văn. Văn báo với chúa Nguyễn Phúc Thuần và xin trị
tội Loan.
46
Thế nhưng, chúa nghe lời của Loan cho là mình bị vu oan nên
Loan không bị việc gì. Loan ôm hận và tìm cách trả thù. Y dùng
lại thủ đoạn mà những đối thủ đã dùng, cho người vu cáo Tôn
Thất Văn thông đồng với Tây Sơn, giả thư Tây Sơn gửi cho Văn.
Tôn Thất Văn lo sợ, chạy trốn nhưng bị Loan sai người đuổi theo
bắt và dìm chết ở phá Tam Giang.
47
Trong khi quan lại sống xa xỉ, người dân Đàng Trong bị đói
khổ. Nạn đói thường xảy ra ở vùng Thuận Quảng, chẳng hạn như
cuối năm 1744, Thuận Hóa xảy ra nạn đói, người chết đói đầy
đường, có khi người ta phải ăn cả thịt người để sống sót. Năm
1752, giá gạo tăng cao nên nhiều người bị chết đói.
48
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Đàng Trong suy tàn / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn. - T.P. Hồ Chí
Minh : Trẻ, 2014.
92tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.53).
1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- 1592-1788. 3. Việt Nam -- Vua và
quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Vietnam -- History -- 1592-1788. 3. Vietnam -- King
and rulers.
959.70272 -- dc 22
Đ182
LỜI GIỚI THIỆU
Chúa Nguyễn Phúc Chú mất, con trưởng của người là Nguyễn
Phúc Khoát lên nối nghiệp lớn. Lúc bấy giờ ở Đàng Trong, vua
Lê chỉ là hư danh, các chúa Trịnh đã xưng vương nên sau khi nối
nghiệp chúa, năm 1744, chúa xưng vương, hiệu Võ vương. Một
trong những công lao lớn của Võ vương chính là hoàn thành công
cuộc Nam tiến đến năm 1757, bờ cõi đất nước đã đến mũi Cà Mau
và vịnh Xiêm La (vịnh Thái Lan).
Cuối đời Võ vương, quyền thần Trương Phúc Loan chuyên
quyền, đổi di chiếu, lập Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là
Định vương để dễ bề thao túng triều chính. Do Định vương còn
nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan,
từ đó nhân dân oán ghét, lòng người ly tán. Mầm suy vong của
Đàng Trong khởi sự từ đây.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 53 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Đàng Trong suy tàn” phần lời do Lê
Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 53 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú băng, Nguyễn Phúc
Khoát lên nối ngôi chúa vào mùa hạ năm Mậu Ngọ
(1738), hiệu Từ Tế đạo nhân, còn gọi là Võ vương hay
chúa Võ. Chúa ở ngôi 27 năm, thọ 52 tuổi, táng tại núi
La Khê, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
Quyền thần Trương Phúc Loan đưa Nguyễn Phúc
Thuần lên ngôi chúa, gọi là Định vương. Định vương
bị bắt trong trận đánh tháng 9 năm Đinh Dậu (1777)
với Tây Sơn ở Long Xuyên (nay là Cà Mau), mất khi
26 tuổi.
4
Nguyễn Phúc Khoát lên nối ngôi chúa lúc 25 tuổi. Hơn mười
năm sau, Pierre Poivre - một thương gia người Pháp - đã có dịp
gặp chúa Võ và ghi lại như sau: “Ngài có vẻ bề ngoài khỏe mạnh
và thân thể vạm vỡ, nét mặt nở nang, đầu xinh, tóc xám và dài,
rậm và giữ rất khéo, trán rộng, tai dài, mắt và lông mày màu đen,
mũi ngắn, râu mép đen và nhiều, miệng so với mặt vừa khéo, cằm
to và râu cằm ít, cổ vững, hai vai và ngực rộng, bụng to và tay
chân béo”(*).
* Hồng Lam – Cardiere, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, Đại Việt Thiên Bản,
Huế, 1944, tr.55-56.
5
Trước đây, ở Đàng Trong, dù không bị chia phối của triều đình
nhà Lê ở Thăng Long nhưng các chúa Nguyễn vẫn luôn xác định
mình là bề tôi nhà Lê và được vua Lê phong tước Quốc công. Từ
thời chúa Nguyễn Phúc Lan, vua Lê không còn phong tước cho
chúa Nguyễn nhưng các chúa Nguyễn vẫn giữ tước hiệu vua Lê
đã phong từ trước.
6
Tin tưởng vào lời sấm “Bát thế hoàn trung đô” (tám đời trở
lại kinh đô) mà Nguyễn Phúc Khoát là đời thứ tám từ khi chúa
Nguyễn Hoàng vào Nam, nên chúa muốn tách rời khỏi Đàng
Ngoài. Năm Giáp Tý (1744), năm khởi đầu của một giáp(*) trong
âm lịch, chúa quyết định xưng vương hiệu.
Ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), chúa Nguyễn Phúc Khoát
xưng vương ở Phú Xuân.
* Một giáp có 60 năm.
7
Chúa cho đúc ấn vương, đồng thời cho đổi cách gọi, cách xưng
hô. Chính dinh gọi là đô thành, đổi phủ (chúa) làm điện, với các
thuộc quốc thì xưng chúa làm Thiên vương. Tước hiệu của các
chúa đã khuất cũng được sửa đổi theo bậc quốc vương. Tuy nhiên,
khi ghi ngày tháng trong văn thư, chúa vẫn dùng niên hiệu vua Lê
phong cho chúa Nguyễn.
8
Võ vương cải tổ, sắp xếp bộ máy chính quyền trung ương thành
bộ máy của một vương triều thực sự. Tên gọi của các cơ quan
chính quyền trung ương cũng được sửa đổi: Ký lục đổi lại thành
bộ Lại, Nha úy làm bộ Lễ, Đô tri làm bộ Hình, Cai bộ phó đoàn
sự làm bộ Hộ. Chúa đặt thêm hai bộ nữa là bộ Hình và bộ Công.
Như thế, triều đình Phú Xuân đã có đủ sáu bộ.
Chúa cũng định lại triều phục của quan lại và đặc biệt bắt dân
chúng thay đổi y phục theo y phục của người Trung Hoa trước
đời Thanh.
9
Lãnh thổ Đàng Trong được tổ chức thành một quốc gia với
12 dinh và 1 trấn, Phú Xuân là kinh đô. Dưới các dinh, trấn có
các đơn vị phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phường... Miền núi và ven
biển còn có thuộc (tương đương tổng). Đứng đầu dinh có chức
Trấn thủ, Cai bạ, Ký lục. Đứng đầu trấn Hà Tiên là Tổng binh. Ở
cấp phủ, huyện có Tri phủ, Tri huyện đứng đầu, cấp xã có Tướng
thần, Xã trưởng.
10
Cũng như những đời trước, quan lại được bổ nhiệm theo cách
tiến cử hoặc thi cử. Năm 1740, Võ vương định lại phép thi: kỳ
đệ nhất thi tứ lục, ai đỗ được miễn sai dịch 5 năm; kỳ đệ nhị thi
thơ phú, kỳ đệ tam thi nghĩa kinh, ai đỗ được miễn sai dịch cả
đời; kỳ đệ tứ thi văn sách, thi đỗ là Hương cống, được bổ làm Tri
phủ, Tri huyện, Huấn đạo. Tuy nhiên, các kỳ thi không được tổ
chức thường xuyên.
11
Nạn mua bán quan chức cũng rất phổ biến ở Đàng Trong. Chúa
Nguyễn quy định để được làm Tướng thần(*) phải nộp 49 quan, để
làm Xã trưởng phải nộp 41 quan. Sách Phủ biên tạp lục ghi lại:
“... do đó mà mọi người tranh nhau nộp tiền lĩnh bằng (được giữ
chức vụ trên), đến nay có chỗ một xã có đến 16 hay 17 Tướng
thần, hơn 20 Xã trưởng đều được làm việc...”(**). Các quan cũng
có thể nộp tiền để được thăng chức, chẳng hạn như năm 1766,
Tướng thần Đoàn Phúc Chiêm đã nộp 664 quan để được thăng
chức Ký phủ.
* Người thu thuế.
** Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1964, tr.156.
12
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, đất đai mở rộng rất nhiều
về phía nam. Để thúc đẩy việc biến đất hoang thành ruộng vườn,
Võ vương đã kêu gọi dân các vùng Thuận Quảng đi đến vùng đất
mới khai phá. Ruộng đất mới được khai
phá sẽ được công nhận là tư điền. Trong
thế kỷ XVIII, người Đàng Trong phải
chịu sưu cao thuế nặng nên có rất
nhiều người nghèo đói. Vì thế,
nhiều người đã rời bỏ quê
hương vào vùng đất mới.
13
Một số người khác lại rời bỏ quê hương vì việc cấm đạo Thiên
Chúa. Họ đến vùng đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long
vì nơi đây việc cấm đạo không quá gắt gao. Các nhóm giáo dân
Thiên Chúa giáo đến định cư nhiều nơi như: Cái Đôi bên bờ sông
Hậu, cù lao Giêng (trên sông Hậu), Lo Ót (hay Bò Ót - thuộc Long
Xuyên ngày nay)...
Chúa Nguyễn cũng kêu gọi người giàu có ở Thuận Quảng mộ
người vào Nam khai khẩn. Những người này, nhờ có vốn liếng
nên đã đóng góp đáng kể vào công cuộc khai khẩn vùng đất mới.
14
Công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng sông, sông Đồng Nai
đã phát triển mạnh. Nơi đây đã xuất hiện những người có nhiều
ruộng đất. Lê Quý Đôn ghi lại: “Người giàu ở các địa phương
hoặc bốn năm mươi nhà hoặc hai ba mươi nhà, mỗi nhà điền nô
hoặc đến năm sáu mươi người, trâu bò hoặc đến ba bốn trăm con,
cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi...”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.381.
15
Người Đàng Trong trồng nhiều giống lúa tẻ, lúa nếp, tùy điều
kiện đất đai và thời tiết. Ở phủ Triệu Phong, nông dân trồng 7
giống lúa nếp, 10 giống lúa tẻ. Ở huyện Minh Linh, người ta trồng
5 giống lúa nếp và 7 giống lúa tẻ. Trong đó, có những giống thời
gian từ cấy đến gặt chỉ 3 tháng, có giống chịu được nước mặn, có
giống chịu đất thấp hoặc loại chịu đất cao, khô ráo...
16
Trên đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long, nông dân cũng
trồng nhiều giống lúa khác nhau, kỹ thuật canh tác cũng đa dạng.
Có loại ruộng người ta cày và cấy, ở loại ruộng bùn sâu, người
nông dân chờ cho ruộng có nhiều nước rồi cắt bỏ đưng lác, cào
cỏ đắp bờ rồi dùng cây chòi lỗ ở đất rồi cấy mạ xuống. Cũng có
loại ruộng ở vùng Bả Canh, Tam Lập (vùng Tiền Giang), người
ta không cần cày bừa, chỉ phát cỏ rồi cấy. Đất ở đây rất tốt, cấy 1
hộc lúa, gặt được 300 hộc.
17
Ở đất Gia Định (Nam Bộ), ngoài lúa gạo ra, người ta còn trồng
nhiều loại cây khác nhau, đặc biệt là cây cau. Ngạn ngữ thời này
có câu: “Gia Định nhất thóc, nhì cau” đã nói lên điều đó. Nông
dân để cau già, lấy hạt bán cho thương nhân người Hoa.
Các loài cây ăn trái được trồng nhiều ở vùng giữa sông Tiền
và sông Hậu (vùng này thường được gọi là miệt vườn).
18
Ở Đàng Trong có nhiều làng nổi tiếng về các sản phẩm thủ
công như xã Phú Trạch, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, các
xã Đại Phước, Tuy Lộc huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình chuyên
làm chiếu; xã Triệu Sơn, huyện Phú Vang phủ Triệu Phong chuyên
làm nón. Giấy sản xuất ở xã Đốc Sơ, huyện Hương Trà và thôn
Trung Chỉ, huyện Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong được làm
bằng vỏ cây gió. Xã Tuy Lộc và Đại Phúc ở huyện Lệ Thủy, phủ
Quảng Bình thì làm giấy bằng vỏ cây niệt, bền và dầy như giấy
lệnh sản xuất ở Thanh Hoa (Đàng Ngoài).
19
Thợ ở hai xã Phan Xá và Hoàng Giang, huyện Khang Lộc, phủ
Quảng Bình giỏi nghề đúc súng. Chúa Nguyễn dùng thợ ở hai xã
này lập nên những đội chuyên đúc súng ở Phú Xuân. Ở bờ nam
sông Hương (Phú Xuân) có phường đúc sản xuất các loại đồ đồng
như súng đồng, nồi, vạc, chảo, đèn... Ngoài ra, thợ ở xã Võng Trì,
huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong chuyên làm các loại cày, cuốc,
rìu, búa,.. Thợ ở xã Mậu Tài, châu Phú Vang, phủ Triệu Phong
khéo nghề làm dây đồng, đồng thau,...
20
Nghề dệt cũng rất phát triển ở Đàng Trong cung cấp nhiều loại
vải lụa để dùng trong nước và bán cho thuyền buôn nước ngoài.
Nhiều vùng chuyên về một vài loại sản phẩm như các xã Sơn Điền,
Dương Xuân, Vạn Xuân ở huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong
chuyên về các loại vóc, sạ, lĩnh, gấm, trừu; xã Bình Xá, Võ Xá,
huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình lại chuyên về lụa,...
21
Đường là một sản phẩm khá nổi tiếng ở Đàng Trong. Các loại
đường đen, đường trắng được sản xuất ở huyện Đăng Xương,
huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong. Đường phổi, đường phèn
là sản phẩm nổi tiếng của phủ Điện Bàn. Thương nhân Pierre
Poivre ghi lại trong hồi ký của mình: “Có thể nói không quá
rằng đường của Đàng Trong chẳng thua kém loại đường tốt
nhất của Ấn Độ và đã thu hút nhiều thương nhân Trung
Quốc đến Hội An mua chở đi bán ở Quảng
Đông, Nhật Bản lãi 400%...”.
22
Người thợ thủ công Đàng
Trong còn biết cả việc sửa máy
móc. Sách Phủ biên tạp lục có ghi
lại chuyện về người thợ sửa đồng
hồ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát có
một chiếc đồng hồ quả lắc tinh xảo
do Tây phương chế tạo. Đồng hồ bị
hư, chúa nhờ Từ Tâm Bá (một người
Tây phương đang được chúa giao cho
việc xem xét các hiện tượng thiên văn)
sửa nhưng y chần chừ mãi mấy năm
không làm. Chúa nhờ một người
thợ Trung Quốc ở Ma Cao sửa giúp
nhưng cũng bị từ chối.
23
Cuối cùng, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Văn Tú sửa
chiếc đồng hồ. Nguyễn Văn Tú lúc nhỏ đã có dịp sang Hà Lan
học hỏi về nghề sửa đồng hồ và kính thiên văn. Không những có
thể sửa được chiếc đồng hồ cho chúa mà ông còn theo cách thức
đó mà chế tạo một chiếc đồng hồ nhỏ hơn, chạy rất chính xác.
Ông về sau làm nghề sửa đồng hồ và chỉ truyền nghề cho những
người trong nhà.
24
Về khai thác quặng mỏ, ở Đàng Trong, hoạt động này không
được chú trọng như ở Đàng Ngoài. Tuy nhiên, một số loại khóang
sản như vàng, sắt cũng được khai thác và đem lại nguồn lợi lớn. Ở
núi Trà Nô, Trà Tế đầu nguồn sông Thu Bồn (Quảng Nam), người
ta: “... tìm thấy mạch [vàng], đào lấy đất, làm nhà để che, chứa đất
thành đống, múc nước dội vào... Rửa đãi một ngày, thường được
vàng vụn đầy một bong bóng trâu, nộp vào trường để nấu đúc”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.248.
25
Lê Quý Đôn cho biết các mỏ vàng này được cấp cho Trương
Phúc Loan làm ngụ lộc. Loan cho người nhà là Án Điện khai thác
hơn 20 năm, vàng được không biết bao nhiêu mà kể. Giang Thuyền
- thông gia của Án Điện - mua một khu núi để khai thác lấy vàng.
Hằng năm, y đem đến Hội An bán không dưới một ngàn hốt vàng.
26
Trong thế kỷ XVIII, ở Đàng Trong, hoạt động buôn bán khá
phát triển. Nhiều khu chợ búa là trung tâm mua bán, trao đổi của
cả một vùng cũng đã hình thành như phủ Thăng Hoa có 6 chợ,
phủ Quy Nhơn có 5 chợ, phủ Diên Khánh có 5 chợ, phủ Gia Định
có 5 chợ,...
27
Việc buôn bán, trao đổi giữa vùng đồng bằng
ven biển và vùng cao nguyên, miền núi được
thực hiện qua các cửa nguồn. Cam Lộ (thuộc
tỉnh Quảng Trị ngày nay) là một trong những
nơi buôn bán đó và có cả đường thông thương
đến nước Lào.
28
Sách Phủ biên tạp lục ghi chép về việc buôn bán đó như sau:
“... người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ
sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt, đến đất người
Man (dân tộc ít người) để đổi lấy hàng hóa, thóc gạo, gà, trâu,
gai sáp, mây, vải... thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có
lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam Lộ để bán... Cũng có phiên
chợ lùa 300 con trâu đến bán, giá 1 con trâu không đến 10 quan,
giá 1 con voi chỉ 2 hốt bạc và 1 khẩu súng nhỏ.”(*)
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.224.
29
Vùng đất Gia Định ngày càng được khai phá, trồng trọt và trở
thành vùng nông nghiệp quan trọng. Đây là vựa lúa của cả Đàng
Trong. Một thương nhân ở Bố Chính (nay là Quảng Bình) thường
vào Gia Định buôn bán cho biết vào tháng 9, tháng 10 âm lịch,
thuyền buôn các xứ Thuận Quảng theo gió bấc (thổi theo hướng
đông bắc - tây nam) vào Gia Định, đến tháng 4, tháng 5 theo gió
nồm (thổi hướng ngược lại) trở về.
30
“Đến xứ Vũng Tàu, đầu cõi Gia Định, hạ buồm đậu vào, hỏi
thăm nơi nào được mùa, nơi nào mất mùa, biết nơi nào được mùa
mới đến... Đến chỗ nào cũng là thuyền buồm tụ họp, mặc cả giá
thành thì người bán hàng tự sai người nhà khuân hàng xuống
thuyền. Một tiền quý mua được 16 đấu thóc... Gạo nếp, gạo tẻ
đều trắng dẻo. Tôm các rất to béo, ăn không hết. Dân địa phương
thường nấu qua rồi phơi khô để bán”(*).
Gia Định có nguồn gỗ phong phú nên các thương nhân Thuận
Quảng thường vào đây đóng thuyền, đem về bán lại.
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.129.
31
Thế kỷ XVII được xem là thời kỳ cực thịnh của ngoại thương
ở Đàng Trong. Sang thế kỷ XVIII, hoạt động thương mại vãng
dần. Năm 1742, công ty Đông - Ấn Pháp phái Pierre Poivre đến
để lập quan hệ mua bán. Nhưng việc buôn bán không được thuận
lợi nên thương gia này bỏ đi và bắt theo một thông dịch viên
người Việt. Việc đó đã khiến Võ vương tức giận, ra lệnh cấm đạo
Thiên Chúa, đuổi các cha cố ra khỏi xứ. Chỉ có cha cố J.Koffker
đang làm bác sĩ cho chúa được ở lại. Sau đó, người Pháp mang
trả người thông dịch viên và cố gắng nối lại việc buôn bán nhưng
không thành công.
32
Số lượng thuyền buôn đến Đàng Trong trong những năm
1740-1750 vào khoảng 60 đến 80 chiếc mỗi năm, đã sụt giảm
xuống còn 16 chiếc vào năm 1771 và 8 chiếc vào năm 1773.
Quan hệ giao thương giữa Đàng Trong và các nước bị thu hẹp.
Số thuyền buôn đến Đàng Trong giờ đây phần nhiều là thuyền
buôn Trung Quốc.
33
Về tiền tệ, trước đây, Đàng Trong tiêu dùng các loại tiền đồng
đúc ở Trung Quốc do các thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản
mang đến. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cũng cho đúc tiền đồng
Thái Bình thông bảo để sử dụng trong nước. Tuy nhiên, người
dân thường đem tiền đồng nấu chảy để đúc thành các vật dụng.
Vì thế, số tiền đồng trong nước ngày càng hao hụt.
34
Năm 1746, Võ vương nghe theo lời khuyên của một người
Hoa cho mua kẽm trắng của người Tây phương đúc tiền. Cục đúc
tiền được lập ở Lương Quán thuộc tổng Kim Long, huyện Hương
Trà, phủ Triệu Phong để đúc tiền kẽm. Nhờ đó, tiền tệ lưu
thông trong cả nước không thiếu hụt như trước. Chúa
nghiêm cấm dân chúng tự đúc tiền và cho thu hồi
dần tiền đồng về chứa trong kho.
35
Sau đó, chúa cho những người có quyền thế được mở lò đúc
tiền để kiếm lời vì chỉ bỏ ra 8 quan tiền mua kẽm về đúc ra tiền,
trừ hết chi phí còn được 20 quan. Tiền này mang tên Thiên Minh
thông bảo. Thêm vào đó, lại có nhiều người đúc trộm tiền vì việc
đúc tiền kẽm không cần kỹ thuật cao. Loại tiền này vừa mỏng lại
vừa xấu vì người ta dùng kẽm pha chì.
36
Dân chúng chê không tiêu dùng tiền kẽm làm giá trị đồng tiền
sụt giảm trầm trọng, xảy ra nạn tiền hoang. Lúc đầu, một đồng
tiền kẽm có giá trị bằng ba đồng tiền đồng. Sau đó, phải ba đồng
tiền kẽm mới ăn một đồng tiền đồng, người ta còn chọn bỏ những
đồng tiền kẽm quá mỏng, xấu. Vật giá vì thế tăng vọt. Năm 1748,
chúa phải ra lệnh bắt buộc dân chúng phải tiêu dùng đồng tiền
đúc bằng kẽm trắng, ai chọn lựa tiền thì bị tội.
37
Nho sĩ Ngô Thế Lân đã tâu với Võ vương về việc đúc tiền
kẽm: “... lợi đúc tiền kẽm lại gấp đôi lợi khác, mà không có cái
lo về lam sơn chướng khí, hùm beo, sóng gió kình ngạc... Cho
nên từ khi việc đúc trộm tiền kẽm ở Ba Xắc (Sóc Trăng ngày nay)
hoành hành thì giá thóc ở Gia Định cao vọt là bởi kẻ đúc trộm
tiền kẽm được lợi rất nhiều, nếu chở đi nơi khác thì lộ việc gian,
nên không kể hàng đắt rẻ, đều tùy tiện mua lấy, giá thóc bèn nhân
đó mà đắt lên...”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.329-330.
38
Nạn tiền hoang khiến cho người có thóc, nhất là các địa chủ ở
Gia Định tích trữ thóc gạo không bán ra. Vì thế, các vùng Quảng
Nam, Thuận Hóa bị thiếu gạo ăn.
Ngoài loại tiền do chúa Nguyễn đúc, trấn Hà Tiên được chúa
cho phép đúc loại tiền riêng để nhân dân tiêu dùng. Đó là tiền
đồng Thái Bình thông bảo và An Pháp nguyên bảo.
Tiền Thái Bình thông bảo
bằng kẽm
Tiền Thái Bình thông bảo
bằng đồng
39
Cuộc sống dân chúng Đàng Trong cơ cực không chỉ vì nạn tiền
hoang mà còn vì sưu cao thuế nặng. Ngoài các loại thuế chính
như thuế đinh, thuế điền... dân còn phải nộp thêm rất nhiều loại
thuế phụ, lễ vật như gạo điền mẫu, tiền cung đốn, tiền gạo ngụ
lộc cho quan thu thuế, tiền nộp thóc vào kho, tiền khoán khố để
sữa chữa kho, tiền cót tre để làm kho, tiền bao mây để chứa thóc,
tiền dầu đèn, tiền trầu cau,...
40
Thuế khóa ngày càng nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa
của chúa và các quan lại. Võ vương cho xây dựng rất nhiều cung
điện tại Phú Xuân cho xứng tầm một đế đô. Có mấy vạn ngôi nhà
được xây cất bằng các loại gỗ quý. Các quan lại cũng bắt chước
như thế mà đua đòi xa hoa.
41
Các loại thuế rất phức tạp, việc thu thuế chi li là môi trường
tốt để các quan thu thuế nhũng lạm. Các quan lại Đàng Trong
không được nhà nước cấp lương mà được cấp lộc điền để cày cấy
nhưng chủ yếu là họ được cấp cho một số dân (gọi là dân ngụ
lộc). Những người này phải nộp tiền, gạo cho quan để thay cho
thuế đinh và lao dịch.
42
Thêm nữa, số quan lại ở Đàng Trong rất nhiều. Lê Quý Đôn
nhận xét: “... tính trong cả xứ, quan bản đường chính ngạch vẫn
nhiều, đặt thừa quá lạm, Tướng thần, Xã trưởng nhiều gấp đôi,
không thể kể xiết”, “Quảng Nam, Thuận Hóa chỉ hai trấn thôi
mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng kể có hàng
nghìn, nhũng lạm quá lắm. Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân
chịu sao được”(*).
* Lê Quý Đôn, Sđd, tr.154, 155.
43
Sự nhũng lạm của quan lại lên đến cùng cực dưới đời chúa
Nguyễn Phúc Thuần. Chúa tin dùng Thái phó Trương Phúc Loan
và Hữu trung cơ Nguyễn Nghiễm là những kẻ tham lam vô độ.
Trương Phúc Loan được hưởng ngụ lộc rất lớn, số thu hằng năm
lên đến bốn năm vạn quan(*) và các nguồn lợi khác thu vào ba
bốn vạn quan nữa.
* 1 quan = 10 tiền = 600 đồng.
44
Tuy thế, Loan vẫn tìm cách cướp của dân, ngay cả những món
vặt vãnh. Để nấu bữa ăn thịnh soạn cho gia đình Loan, mỗi ngày
Loan chỉ phát cho đầu bếp 4 tiền. Vì thế, bọn tôi tớ ra chợ ức hiếp
mua rẻ của dân. Không ai dám chống lại vì sợ bị hại.
Tài sản Loan vơ vét được rất lớn. Có lần nước lụt, những rương
hòm của cải tại dinh thự Phấn Dương bị ướt, người nhà phải đem
vàng ra phơi. Vàng để đầy chiếu mây, sáng lòa cả sân.
45
Lúc bấy giờ, nhiều đại thần, tôn thất oán giận Trương Phúc
Loan, tìm cách loại trừ y nên sai người giả mạo bức thư Loan
thông đồng với Nguyễn Nhạc và lấy trộm ấn của Loan đóng vào
thư đem bỏ ở phủ đường. Có người nhặt được, dâng Chưởng cơ
Tôn Thất Văn. Văn báo với chúa Nguyễn Phúc Thuần và xin trị
tội Loan.
46
Thế nhưng, chúa nghe lời của Loan cho là mình bị vu oan nên
Loan không bị việc gì. Loan ôm hận và tìm cách trả thù. Y dùng
lại thủ đoạn mà những đối thủ đã dùng, cho người vu cáo Tôn
Thất Văn thông đồng với Tây Sơn, giả thư Tây Sơn gửi cho Văn.
Tôn Thất Văn lo sợ, chạy trốn nhưng bị Loan sai người đuổi theo
bắt và dìm chết ở phá Tam Giang.
47
Trong khi quan lại sống xa xỉ, người dân Đàng Trong bị đói
khổ. Nạn đói thường xảy ra ở vùng Thuận Quảng, chẳng hạn như
cuối năm 1744, Thuận Hóa xảy ra nạn đói, người chết đói đầy
đường, có khi người ta phải ăn cả thịt người để sống sót. Năm
1752, giá gạo tăng cao nên nhiều người bị chết đói.
48
 





