TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Website Trường Tiểu học Đức Giang 🌟 Chào mừng quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh đến với website chính thức của Trường Tiểu học Đức Giang – nơi kết nối tri thức, lan tỏa yêu thương và đồng hành cùng hành trình giáo dục bền vững. Tại đây, mọi thông tin về hoạt động dạy – học, phong trào thi đua, tài liệu tham khảo và các thành tựu nổi bật của nhà trường đều được cập nhật kịp thời, khoa học, dễ tra cứu. Website không chỉ là kênh truyền thông hiệu quả, mà còn là cầu nối tri thức số, góp phần nuôi dưỡng tư duy sáng tạo và tình yêu học tập cho thế hệ học sinh tiểu học hôm nay. Hãy cùng khám phá để cảm nhận tinh thần đổi mới, sự tận tâm của đội ngũ giáo viên và không khí học tập tích cực đang lan tỏa nơi ngôi trường thân yêu này!

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg ClipartKey_191402.png Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    💕💕 Sách không chỉ dạy ta kiến thức, mà còn dạy ta cách làm người💕Mỗi trang sách là một hạt giống, gieo vào tâm trí người đọc những mầm xanh bất tận💕

    50 năm thiên anh hùng ca giải phóng | Vũ Kim Yến

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 53- Đàng Trong suy tàn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 13h:21' 23-11-2024
    Dung lượng: 5.7 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN

    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

    Đàng Trong suy tàn / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn. - T.P. Hồ Chí
    Minh : Trẻ, 2014.
    92tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.53).
    1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- 1592-1788. 3. Việt Nam -- Vua và
    quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Trương Phúc Loan, ?-1776. 2. Vietnam -- History -- 1592-1788. 3. Vietnam -- King
    and rulers.
    959.70272 -- dc 22
    Đ182

    LỜI GIỚI THIỆU
    Chúa Nguyễn Phúc Chú mất, con trưởng của người là Nguyễn
    Phúc Khoát lên nối nghiệp lớn. Lúc bấy giờ ở Đàng Trong, vua
    Lê chỉ là hư danh, các chúa Trịnh đã xưng vương nên sau khi nối
    nghiệp chúa, năm 1744, chúa xưng vương, hiệu Võ vương. Một
    trong những công lao lớn của Võ vương chính là hoàn thành công
    cuộc Nam tiến đến năm 1757, bờ cõi đất nước đã đến mũi Cà Mau
    và vịnh Xiêm La (vịnh Thái Lan).
    Cuối đời Võ vương, quyền thần Trương Phúc Loan chuyên
    quyền, đổi di chiếu, lập Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là
    Định vương để dễ bề thao túng triều chính. Do Định vương còn
    nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan,
    từ đó nhân dân oán ghét, lòng người ly tán. Mầm suy vong của
    Đàng Trong khởi sự từ đây.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 53 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Đàng Trong suy tàn” phần lời do Lê
    Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 53 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú băng, Nguyễn Phúc
    Khoát lên nối ngôi chúa vào mùa hạ năm Mậu Ngọ
    (1738), hiệu Từ Tế đạo nhân, còn gọi là Võ vương hay
    chúa Võ. Chúa ở ngôi 27 năm, thọ 52 tuổi, táng tại núi
    La Khê, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
    Thiên - Huế.
    Quyền thần Trương Phúc Loan đưa Nguyễn Phúc
    Thuần lên ngôi chúa, gọi là Định vương. Định vương
    bị bắt trong trận đánh tháng 9 năm Đinh Dậu (1777)
    với Tây Sơn ở Long Xuyên (nay là Cà Mau), mất khi
    26 tuổi.

    4

    Nguyễn Phúc Khoát lên nối ngôi chúa lúc 25 tuổi. Hơn mười
    năm sau, Pierre Poivre - một thương gia người Pháp - đã có dịp
    gặp chúa Võ và ghi lại như sau: “Ngài có vẻ bề ngoài khỏe mạnh
    và thân thể vạm vỡ, nét mặt nở nang, đầu xinh, tóc xám và dài,
    rậm và giữ rất khéo, trán rộng, tai dài, mắt và lông mày màu đen,
    mũi ngắn, râu mép đen và nhiều, miệng so với mặt vừa khéo, cằm
    to và râu cằm ít, cổ vững, hai vai và ngực rộng, bụng to và tay
    chân béo”(*).
    * Hồng Lam – Cardiere, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, Đại Việt Thiên Bản,
    Huế, 1944, tr.55-56.

    5

    Trước đây, ở Đàng Trong, dù không bị chia phối của triều đình
    nhà Lê ở Thăng Long nhưng các chúa Nguyễn vẫn luôn xác định
    mình là bề tôi nhà Lê và được vua Lê phong tước Quốc công. Từ
    thời chúa Nguyễn Phúc Lan, vua Lê không còn phong tước cho
    chúa Nguyễn nhưng các chúa Nguyễn vẫn giữ tước hiệu vua Lê
    đã phong từ trước.

    6

    Tin tưởng vào lời sấm “Bát thế hoàn trung đô” (tám đời trở
    lại kinh đô) mà Nguyễn Phúc Khoát là đời thứ tám từ khi chúa
    Nguyễn Hoàng vào Nam, nên chúa muốn tách rời khỏi Đàng
    Ngoài. Năm Giáp Tý (1744), năm khởi đầu của một giáp(*) trong
    âm lịch, chúa quyết định xưng vương hiệu.
    Ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), chúa Nguyễn Phúc Khoát
    xưng vương ở Phú Xuân.
    * Một giáp có 60 năm.

    7

    Chúa cho đúc ấn vương, đồng thời cho đổi cách gọi, cách xưng
    hô. Chính dinh gọi là đô thành, đổi phủ (chúa) làm điện, với các
    thuộc quốc thì xưng chúa làm Thiên vương. Tước hiệu của các
    chúa đã khuất cũng được sửa đổi theo bậc quốc vương. Tuy nhiên,
    khi ghi ngày tháng trong văn thư, chúa vẫn dùng niên hiệu vua Lê
    phong cho chúa Nguyễn.

    8

    Võ vương cải tổ, sắp xếp bộ máy chính quyền trung ương thành
    bộ máy của một vương triều thực sự. Tên gọi của các cơ quan
    chính quyền trung ương cũng được sửa đổi: Ký lục đổi lại thành
    bộ Lại, Nha úy làm bộ Lễ, Đô tri làm bộ Hình, Cai bộ phó đoàn
    sự làm bộ Hộ. Chúa đặt thêm hai bộ nữa là bộ Hình và bộ Công.
    Như thế, triều đình Phú Xuân đã có đủ sáu bộ.
    Chúa cũng định lại triều phục của quan lại và đặc biệt bắt dân
    chúng thay đổi y phục theo y phục của người Trung Hoa trước
    đời Thanh.

    9

    Lãnh thổ Đàng Trong được tổ chức thành một quốc gia với
    12 dinh và 1 trấn, Phú Xuân là kinh đô. Dưới các dinh, trấn có
    các đơn vị phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phường... Miền núi và ven
    biển còn có thuộc (tương đương tổng). Đứng đầu dinh có chức
    Trấn thủ, Cai bạ, Ký lục. Đứng đầu trấn Hà Tiên là Tổng binh. Ở
    cấp phủ, huyện có Tri phủ, Tri huyện đứng đầu, cấp xã có Tướng
    thần, Xã trưởng.

    10

    Cũng như những đời trước, quan lại được bổ nhiệm theo cách
    tiến cử hoặc thi cử. Năm 1740, Võ vương định lại phép thi: kỳ
    đệ nhất thi tứ lục, ai đỗ được miễn sai dịch 5 năm; kỳ đệ nhị thi
    thơ phú, kỳ đệ tam thi nghĩa kinh, ai đỗ được miễn sai dịch cả
    đời; kỳ đệ tứ thi văn sách, thi đỗ là Hương cống, được bổ làm Tri
    phủ, Tri huyện, Huấn đạo. Tuy nhiên, các kỳ thi không được tổ
    chức thường xuyên.
    11

    Nạn mua bán quan chức cũng rất phổ biến ở Đàng Trong. Chúa
    Nguyễn quy định để được làm Tướng thần(*) phải nộp 49 quan, để
    làm Xã trưởng phải nộp 41 quan. Sách Phủ biên tạp lục ghi lại:
    “... do đó mà mọi người tranh nhau nộp tiền lĩnh bằng (được giữ
    chức vụ trên), đến nay có chỗ một xã có đến 16 hay 17 Tướng
    thần, hơn 20 Xã trưởng đều được làm việc...”(**). Các quan cũng
    có thể nộp tiền để được thăng chức, chẳng hạn như năm 1766,
    Tướng thần Đoàn Phúc Chiêm đã nộp 664 quan để được thăng
    chức Ký phủ.
    * Người thu thuế.
    ** Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
    1964, tr.156.

    12

    Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, đất đai mở rộng rất nhiều
    về phía nam. Để thúc đẩy việc biến đất hoang thành ruộng vườn,
    Võ vương đã kêu gọi dân các vùng Thuận Quảng đi đến vùng đất
    mới khai phá. Ruộng đất mới được khai
    phá sẽ được công nhận là tư điền. Trong
    thế kỷ XVIII, người Đàng Trong phải
    chịu sưu cao thuế nặng nên có rất
    nhiều người nghèo đói. Vì thế,
    nhiều người đã rời bỏ quê
    hương vào vùng đất mới.

    13

    Một số người khác lại rời bỏ quê hương vì việc cấm đạo Thiên
    Chúa. Họ đến vùng đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long
    vì nơi đây việc cấm đạo không quá gắt gao. Các nhóm giáo dân
    Thiên Chúa giáo đến định cư nhiều nơi như: Cái Đôi bên bờ sông
    Hậu, cù lao Giêng (trên sông Hậu), Lo Ót (hay Bò Ót - thuộc Long
    Xuyên ngày nay)...
    Chúa Nguyễn cũng kêu gọi người giàu có ở Thuận Quảng mộ
    người vào Nam khai khẩn. Những người này, nhờ có vốn liếng
    nên đã đóng góp đáng kể vào công cuộc khai khẩn vùng đất mới.
    14

    Công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng sông, sông Đồng Nai
    đã phát triển mạnh. Nơi đây đã xuất hiện những người có nhiều
    ruộng đất. Lê Quý Đôn ghi lại: “Người giàu ở các địa phương
    hoặc bốn năm mươi nhà hoặc hai ba mươi nhà, mỗi nhà điền nô
    hoặc đến năm sáu mươi người, trâu bò hoặc đến ba bốn trăm con,
    cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi...”(*).

    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.381.

    15

    Người Đàng Trong trồng nhiều giống lúa tẻ, lúa nếp, tùy điều
    kiện đất đai và thời tiết. Ở phủ Triệu Phong, nông dân trồng 7
    giống lúa nếp, 10 giống lúa tẻ. Ở huyện Minh Linh, người ta trồng
    5 giống lúa nếp và 7 giống lúa tẻ. Trong đó, có những giống thời
    gian từ cấy đến gặt chỉ 3 tháng, có giống chịu được nước mặn, có
    giống chịu đất thấp hoặc loại chịu đất cao, khô ráo...

    16

    Trên đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long, nông dân cũng
    trồng nhiều giống lúa khác nhau, kỹ thuật canh tác cũng đa dạng.
    Có loại ruộng người ta cày và cấy, ở loại ruộng bùn sâu, người
    nông dân chờ cho ruộng có nhiều nước rồi cắt bỏ đưng lác, cào
    cỏ đắp bờ rồi dùng cây chòi lỗ ở đất rồi cấy mạ xuống. Cũng có
    loại ruộng ở vùng Bả Canh, Tam Lập (vùng Tiền Giang), người
    ta không cần cày bừa, chỉ phát cỏ rồi cấy. Đất ở đây rất tốt, cấy 1
    hộc lúa, gặt được 300 hộc.

    17

    Ở đất Gia Định (Nam Bộ), ngoài lúa gạo ra, người ta còn trồng
    nhiều loại cây khác nhau, đặc biệt là cây cau. Ngạn ngữ thời này
    có câu: “Gia Định nhất thóc, nhì cau” đã nói lên điều đó. Nông
    dân để cau già, lấy hạt bán cho thương nhân người Hoa.
    Các loài cây ăn trái được trồng nhiều ở vùng giữa sông Tiền
    và sông Hậu (vùng này thường được gọi là miệt vườn).

    18

    Ở Đàng Trong có nhiều làng nổi tiếng về các sản phẩm thủ
    công như xã Phú Trạch, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, các
    xã Đại Phước, Tuy Lộc huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình chuyên
    làm chiếu; xã Triệu Sơn, huyện Phú Vang phủ Triệu Phong chuyên
    làm nón. Giấy sản xuất ở xã Đốc Sơ, huyện Hương Trà và thôn
    Trung Chỉ, huyện Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong được làm
    bằng vỏ cây gió. Xã Tuy Lộc và Đại Phúc ở huyện Lệ Thủy, phủ
    Quảng Bình thì làm giấy bằng vỏ cây niệt, bền và dầy như giấy
    lệnh sản xuất ở Thanh Hoa (Đàng Ngoài).

    19

    Thợ ở hai xã Phan Xá và Hoàng Giang, huyện Khang Lộc, phủ
    Quảng Bình giỏi nghề đúc súng. Chúa Nguyễn dùng thợ ở hai xã
    này lập nên những đội chuyên đúc súng ở Phú Xuân. Ở bờ nam
    sông Hương (Phú Xuân) có phường đúc sản xuất các loại đồ đồng
    như súng đồng, nồi, vạc, chảo, đèn... Ngoài ra, thợ ở xã Võng Trì,
    huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong chuyên làm các loại cày, cuốc,
    rìu, búa,.. Thợ ở xã Mậu Tài, châu Phú Vang, phủ Triệu Phong
    khéo nghề làm dây đồng, đồng thau,...

    20

    Nghề dệt cũng rất phát triển ở Đàng Trong cung cấp nhiều loại
    vải lụa để dùng trong nước và bán cho thuyền buôn nước ngoài.
    Nhiều vùng chuyên về một vài loại sản phẩm như các xã Sơn Điền,
    Dương Xuân, Vạn Xuân ở huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong
    chuyên về các loại vóc, sạ, lĩnh, gấm, trừu; xã Bình Xá, Võ Xá,
    huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình lại chuyên về lụa,...

    21

    Đường là một sản phẩm khá nổi tiếng ở Đàng Trong. Các loại
    đường đen, đường trắng được sản xuất ở huyện Đăng Xương,
    huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong. Đường phổi, đường phèn
    là sản phẩm nổi tiếng của phủ Điện Bàn. Thương nhân Pierre
    Poivre ghi lại trong hồi ký của mình: “Có thể nói không quá
    rằng đường của Đàng Trong chẳng thua kém loại đường tốt
    nhất của Ấn Độ và đã thu hút nhiều thương nhân Trung
    Quốc đến Hội An mua chở đi bán ở Quảng
    Đông, Nhật Bản lãi 400%...”.

    22

    Người thợ thủ công Đàng
    Trong còn biết cả việc sửa máy
    móc. Sách Phủ biên tạp lục có ghi
    lại chuyện về người thợ sửa đồng
    hồ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát có
    một chiếc đồng hồ quả lắc tinh xảo
    do Tây phương chế tạo. Đồng hồ bị
    hư, chúa nhờ Từ Tâm Bá (một người
    Tây phương đang được chúa giao cho
    việc xem xét các hiện tượng thiên văn)
    sửa nhưng y chần chừ mãi mấy năm
    không làm. Chúa nhờ một người
    thợ Trung Quốc ở Ma Cao sửa giúp
    nhưng cũng bị từ chối.

    23

    Cuối cùng, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Văn Tú sửa
    chiếc đồng hồ. Nguyễn Văn Tú lúc nhỏ đã có dịp sang Hà Lan
    học hỏi về nghề sửa đồng hồ và kính thiên văn. Không những có
    thể sửa được chiếc đồng hồ cho chúa mà ông còn theo cách thức
    đó mà chế tạo một chiếc đồng hồ nhỏ hơn, chạy rất chính xác.
    Ông về sau làm nghề sửa đồng hồ và chỉ truyền nghề cho những
    người trong nhà.

    24

    Về khai thác quặng mỏ, ở Đàng Trong, hoạt động này không
    được chú trọng như ở Đàng Ngoài. Tuy nhiên, một số loại khóang
    sản như vàng, sắt cũng được khai thác và đem lại nguồn lợi lớn. Ở
    núi Trà Nô, Trà Tế đầu nguồn sông Thu Bồn (Quảng Nam), người
    ta: “... tìm thấy mạch [vàng], đào lấy đất, làm nhà để che, chứa đất
    thành đống, múc nước dội vào... Rửa đãi một ngày, thường được
    vàng vụn đầy một bong bóng trâu, nộp vào trường để nấu đúc”(*).
    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.248.

    25

    Lê Quý Đôn cho biết các mỏ vàng này được cấp cho Trương
    Phúc Loan làm ngụ lộc. Loan cho người nhà là Án Điện khai thác
    hơn 20 năm, vàng được không biết bao nhiêu mà kể. Giang Thuyền
    - thông gia của Án Điện - mua một khu núi để khai thác lấy vàng.
    Hằng năm, y đem đến Hội An bán không dưới một ngàn hốt vàng.

    26

    Trong thế kỷ XVIII, ở Đàng Trong, hoạt động buôn bán khá
    phát triển. Nhiều khu chợ búa là trung tâm mua bán, trao đổi của
    cả một vùng cũng đã hình thành như phủ Thăng Hoa có 6 chợ,
    phủ Quy Nhơn có 5 chợ, phủ Diên Khánh có 5 chợ, phủ Gia Định
    có 5 chợ,...
    27

    Việc buôn bán, trao đổi giữa vùng đồng bằng
    ven biển và vùng cao nguyên, miền núi được
    thực hiện qua các cửa nguồn. Cam Lộ (thuộc
    tỉnh Quảng Trị ngày nay) là một trong những
    nơi buôn bán đó và có cả đường thông thương
    đến nước Lào.

    28

    Sách Phủ biên tạp lục ghi chép về việc buôn bán đó như sau:
    “... người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ
    sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt, đến đất người
    Man (dân tộc ít người) để đổi lấy hàng hóa, thóc gạo, gà, trâu,
    gai sáp, mây, vải... thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có
    lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam Lộ để bán... Cũng có phiên
    chợ lùa 300 con trâu đến bán, giá 1 con trâu không đến 10 quan,
    giá 1 con voi chỉ 2 hốt bạc và 1 khẩu súng nhỏ.”(*)
    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.224.

    29

    Vùng đất Gia Định ngày càng được khai phá, trồng trọt và trở
    thành vùng nông nghiệp quan trọng. Đây là vựa lúa của cả Đàng
    Trong. Một thương nhân ở Bố Chính (nay là Quảng Bình) thường
    vào Gia Định buôn bán cho biết vào tháng 9, tháng 10 âm lịch,
    thuyền buôn các xứ Thuận Quảng theo gió bấc (thổi theo hướng
    đông bắc - tây nam) vào Gia Định, đến tháng 4, tháng 5 theo gió
    nồm (thổi hướng ngược lại) trở về.
    30

    “Đến xứ Vũng Tàu, đầu cõi Gia Định, hạ buồm đậu vào, hỏi
    thăm nơi nào được mùa, nơi nào mất mùa, biết nơi nào được mùa
    mới đến... Đến chỗ nào cũng là thuyền buồm tụ họp, mặc cả giá
    thành thì người bán hàng tự sai người nhà khuân hàng xuống
    thuyền. Một tiền quý mua được 16 đấu thóc... Gạo nếp, gạo tẻ
    đều trắng dẻo. Tôm các rất to béo, ăn không hết. Dân địa phương
    thường nấu qua rồi phơi khô để bán”(*).
    Gia Định có nguồn gỗ phong phú nên các thương nhân Thuận
    Quảng thường vào đây đóng thuyền, đem về bán lại.
    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.129.

    31

    Thế kỷ XVII được xem là thời kỳ cực thịnh của ngoại thương
    ở Đàng Trong. Sang thế kỷ XVIII, hoạt động thương mại vãng
    dần. Năm 1742, công ty Đông - Ấn Pháp phái Pierre Poivre đến
    để lập quan hệ mua bán. Nhưng việc buôn bán không được thuận
    lợi nên thương gia này bỏ đi và bắt theo một thông dịch viên
    người Việt. Việc đó đã khiến Võ vương tức giận, ra lệnh cấm đạo
    Thiên Chúa, đuổi các cha cố ra khỏi xứ. Chỉ có cha cố J.Koffker
    đang làm bác sĩ cho chúa được ở lại. Sau đó, người Pháp mang
    trả người thông dịch viên và cố gắng nối lại việc buôn bán nhưng
    không thành công.
    32

    Số lượng thuyền buôn đến Đàng Trong trong những năm
    1740-1750 vào khoảng 60 đến 80 chiếc mỗi năm, đã sụt giảm
    xuống còn 16 chiếc vào năm 1771 và 8 chiếc vào năm 1773.
    Quan hệ giao thương giữa Đàng Trong và các nước bị thu hẹp.
    Số thuyền buôn đến Đàng Trong giờ đây phần nhiều là thuyền
    buôn Trung Quốc.
    33

    Về tiền tệ, trước đây, Đàng Trong tiêu dùng các loại tiền đồng
    đúc ở Trung Quốc do các thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản
    mang đến. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cũng cho đúc tiền đồng
    Thái Bình thông bảo để sử dụng trong nước. Tuy nhiên, người
    dân thường đem tiền đồng nấu chảy để đúc thành các vật dụng.
    Vì thế, số tiền đồng trong nước ngày càng hao hụt.

    34

    Năm 1746, Võ vương nghe theo lời khuyên của một người
    Hoa cho mua kẽm trắng của người Tây phương đúc tiền. Cục đúc
    tiền được lập ở Lương Quán thuộc tổng Kim Long, huyện Hương
    Trà, phủ Triệu Phong để đúc tiền kẽm. Nhờ đó, tiền tệ lưu
    thông trong cả nước không thiếu hụt như trước. Chúa
    nghiêm cấm dân chúng tự đúc tiền và cho thu hồi
    dần tiền đồng về chứa trong kho.

    35

    Sau đó, chúa cho những người có quyền thế được mở lò đúc
    tiền để kiếm lời vì chỉ bỏ ra 8 quan tiền mua kẽm về đúc ra tiền,
    trừ hết chi phí còn được 20 quan. Tiền này mang tên Thiên Minh
    thông bảo. Thêm vào đó, lại có nhiều người đúc trộm tiền vì việc
    đúc tiền kẽm không cần kỹ thuật cao. Loại tiền này vừa mỏng lại
    vừa xấu vì người ta dùng kẽm pha chì.

    36

    Dân chúng chê không tiêu dùng tiền kẽm làm giá trị đồng tiền
    sụt giảm trầm trọng, xảy ra nạn tiền hoang. Lúc đầu, một đồng
    tiền kẽm có giá trị bằng ba đồng tiền đồng. Sau đó, phải ba đồng
    tiền kẽm mới ăn một đồng tiền đồng, người ta còn chọn bỏ những
    đồng tiền kẽm quá mỏng, xấu. Vật giá vì thế tăng vọt. Năm 1748,
    chúa phải ra lệnh bắt buộc dân chúng phải tiêu dùng đồng tiền
    đúc bằng kẽm trắng, ai chọn lựa tiền thì bị tội.
    37

    Nho sĩ Ngô Thế Lân đã tâu với Võ vương về việc đúc tiền
    kẽm: “... lợi đúc tiền kẽm lại gấp đôi lợi khác, mà không có cái
    lo về lam sơn chướng khí, hùm beo, sóng gió kình ngạc... Cho
    nên từ khi việc đúc trộm tiền kẽm ở Ba Xắc (Sóc Trăng ngày nay)
    hoành hành thì giá thóc ở Gia Định cao vọt là bởi kẻ đúc trộm
    tiền kẽm được lợi rất nhiều, nếu chở đi nơi khác thì lộ việc gian,
    nên không kể hàng đắt rẻ, đều tùy tiện mua lấy, giá thóc bèn nhân
    đó mà đắt lên...”(*).
    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.329-330.

    38

    Nạn tiền hoang khiến cho người có thóc, nhất là các địa chủ ở
    Gia Định tích trữ thóc gạo không bán ra. Vì thế, các vùng Quảng
    Nam, Thuận Hóa bị thiếu gạo ăn.
    Ngoài loại tiền do chúa Nguyễn đúc, trấn Hà Tiên được chúa
    cho phép đúc loại tiền riêng để nhân dân tiêu dùng. Đó là tiền
    đồng Thái Bình thông bảo và An Pháp nguyên bảo.

    Tiền Thái Bình thông bảo
    bằng kẽm

    Tiền Thái Bình thông bảo
    bằng đồng

    39

    Cuộc sống dân chúng Đàng Trong cơ cực không chỉ vì nạn tiền
    hoang mà còn vì sưu cao thuế nặng. Ngoài các loại thuế chính
    như thuế đinh, thuế điền... dân còn phải nộp thêm rất nhiều loại
    thuế phụ, lễ vật như gạo điền mẫu, tiền cung đốn, tiền gạo ngụ
    lộc cho quan thu thuế, tiền nộp thóc vào kho, tiền khoán khố để
    sữa chữa kho, tiền cót tre để làm kho, tiền bao mây để chứa thóc,
    tiền dầu đèn, tiền trầu cau,...
    40

    Thuế khóa ngày càng nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa
    của chúa và các quan lại. Võ vương cho xây dựng rất nhiều cung
    điện tại Phú Xuân cho xứng tầm một đế đô. Có mấy vạn ngôi nhà
    được xây cất bằng các loại gỗ quý. Các quan lại cũng bắt chước
    như thế mà đua đòi xa hoa.

    41

    Các loại thuế rất phức tạp, việc thu thuế chi li là môi trường
    tốt để các quan thu thuế nhũng lạm. Các quan lại Đàng Trong
    không được nhà nước cấp lương mà được cấp lộc điền để cày cấy
    nhưng chủ yếu là họ được cấp cho một số dân (gọi là dân ngụ
    lộc). Những người này phải nộp tiền, gạo cho quan để thay cho
    thuế đinh và lao dịch.

    42

    Thêm nữa, số quan lại ở Đàng Trong rất nhiều. Lê Quý Đôn
    nhận xét: “... tính trong cả xứ, quan bản đường chính ngạch vẫn
    nhiều, đặt thừa quá lạm, Tướng thần, Xã trưởng nhiều gấp đôi,
    không thể kể xiết”, “Quảng Nam, Thuận Hóa chỉ hai trấn thôi
    mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng kể có hàng
    nghìn, nhũng lạm quá lắm. Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân
    chịu sao được”(*).
    * Lê Quý Đôn, Sđd, tr.154, 155.

    43

    Sự nhũng lạm của quan lại lên đến cùng cực dưới đời chúa
    Nguyễn Phúc Thuần. Chúa tin dùng Thái phó Trương Phúc Loan
    và Hữu trung cơ Nguyễn Nghiễm là những kẻ tham lam vô độ.
    Trương Phúc Loan được hưởng ngụ lộc rất lớn, số thu hằng năm
    lên đến bốn năm vạn quan(*) và các nguồn lợi khác thu vào ba
    bốn vạn quan nữa.
    * 1 quan = 10 tiền = 600 đồng.

    44

    Tuy thế, Loan vẫn tìm cách cướp của dân, ngay cả những món
    vặt vãnh. Để nấu bữa ăn thịnh soạn cho gia đình Loan, mỗi ngày
    Loan chỉ phát cho đầu bếp 4 tiền. Vì thế, bọn tôi tớ ra chợ ức hiếp
    mua rẻ của dân. Không ai dám chống lại vì sợ bị hại.
    Tài sản Loan vơ vét được rất lớn. Có lần nước lụt, những rương
    hòm của cải tại dinh thự Phấn Dương bị ướt, người nhà phải đem
    vàng ra phơi. Vàng để đầy chiếu mây, sáng lòa cả sân.

    45

    Lúc bấy giờ, nhiều đại thần, tôn thất oán giận Trương Phúc
    Loan, tìm cách loại trừ y nên sai người giả mạo bức thư Loan
    thông đồng với Nguyễn Nhạc và lấy trộm ấn của Loan đóng vào
    thư đem bỏ ở phủ đường. Có người nhặt được, dâng Chưởng cơ
    Tôn Thất Văn. Văn báo với chúa Nguyễn Phúc Thuần và xin trị
    tội Loan.

    46

    Thế nhưng, chúa nghe lời của Loan cho là mình bị vu oan nên
    Loan không bị việc gì. Loan ôm hận và tìm cách trả thù. Y dùng
    lại thủ đoạn mà những đối thủ đã dùng, cho người vu cáo Tôn
    Thất Văn thông đồng với Tây Sơn, giả thư Tây Sơn gửi cho Văn.
    Tôn Thất Văn lo sợ, chạy trốn nhưng bị Loan sai người đuổi theo
    bắt và dìm chết ở phá Tam Giang.

    47

    Trong khi quan lại sống xa xỉ, người dân Đàng Trong bị đói
    khổ. Nạn đói thường xảy ra ở vùng Thuận Quảng, chẳng hạn như
    cuối năm 1744, Thuận Hóa xảy ra nạn đói, người chết đói đầy
    đường, có khi người ta phải ăn cả thịt người để sống sót. Năm
    1752, giá gạo tăng cao nên nhiều người bị chết đói.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách mỗi ngày là cách ta nuôi dưỡng trí tuệ và nuôi dưỡng tâm hồn."

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC GIANG - HÀ NỘI !