50 năm thiên anh hùng ca giải phóng | Vũ Kim Yến
Xã Hội Việt Nam Từ Thế Kỷ XVII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 20h:46' 17-11-2024
Dung lượng: 13.2 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 20h:46' 17-11-2024
Dung lượng: 13.2 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Trọng Phấn
XÃ HỘI
VIỆT NAM
từ 'thé kỳ XVII
Thu nhặt tài liệu để giúp vào sự giải quyết những vấn để
quan hệ đến cuộc sinh hoạt của dân tộc Việt Nam
(Tạp chí Thanh Nghị)
Kiều Mai Sơn, N guyễn M ạnh Sơn, Nguyễn T rung Thành
(Sưu tầm, giới thiệu)
NHÀXUẤTBẢNTỔNGHỢPTHÀNHPHỐHỔCHÍMINH
Đôi lời về một người ẩn danh
(Thay lời tựa sách)
ôi tốt nghiệp trung học phổ thông rồi theo học Khoa
Lịch sử trường Đại học Tổng hợp đúng thời điểm
chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc (1964 - 1965). Tốt
nghiệp về nhận việc ở Viện Sử học Việt Nam (1969) thì chỉ
ít lâu sau lại đi sơ tán cũng vì cuộc chiến tranh phá hoại trở
nên ác liệt hơn với những trận rải bom của B52 vào lòng Thủ
đô Hà Nội...
T
Nhắc lại điều đó để tôi giải thích vì sao khi thực sự bước
vào cuộc đời nghê' nghiệp, mà tôi lại chưa đến khai thác tài
liệu tại một trong những thư viện quý nhất khi đó là Viện
Thông tin Khoa học xã hội, nơi được thừa kế kho sách vô giá
của Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp tại Hà Nội. Đương
nhiên những năm sau này tôi vẫn thường xuyên đến đọc tài
liệu tại đây, nhưng thời điểm ấy, tôi không còn được gặp một
người là tác giả của cuốn sách mà các bạn cầm trên tay: cụ
Nguyễn Trọng Phấn.
Tôi chỉ gặp cụ Phấn khi cụ đã nghỉ hưu. Một ông già khi
đó đã ngoài bảy mươi, tóc râu đã bạc, lưng lại còng nhưng
lúc nào cũng cắp trên tay những cuốn sách dày mà sau này
khi không còn đủ sức cụ cho vào một cái bị xách bên mình.
Tôi không hiểu những cuốn sách ấy cụ đang sử dụng dở dang
hay mang theo chỉ là một thói quen không bỏ được. Dáng vẻ
hiền từ nhưng ít nói. Tôi chỉ được mọi người giới thiệu đó là
một cán bộ cũ của thư viện.
Sau này, khi tôi hoạt động nhiều trong công việc của Hội
Sử học, tổ chức những sinh hoạt như phổ biến kiến thức,
hội thảo kỷ niệm các sự kiện hay nhân vật lịch sử, luôn thấy
vị khách lão thành ấy có mặt. Khiêm nhường ngồi ở những
hàng ghế sau ít ai để ý. Nhưng với các bậc lão thành, nhất
là trong giới nghiên cứu thì mọi người đều tỏ sự kính trọng
khi gặp cụ. Dần dà tôi biết nhiều hơn vê' con người này. Hỏi
chuyện cụ, nhất là liên quan đến sách vở cái gì cụ cũng am
tường ẩn sau cách nói rất khiêm nhường. Hơn thế thi thoảng
cụ còn đến nhà tôi, khi đó sống trong khu phố cổ. Không gặp
tôi thì trò chuyện với mẹ tôi, cũng thuộc hạng người cũ của
Hà Nội nhưng ít hơn cụ hơn chục tuổi. Câu chuyện giữa họ
là gì tôi không rõ, nhưng mẹ tôi luôn tỏ sự tôn trọng và chỉ
nói với tôi rằng ngày xưa cụ ấy thuộc hạng người “danh giá”.
Một lần tôi có dịp sang Pháp, cụ Phấn đến nhờ tôi gửi
một lá thư cho bà Tiến sĩ Thu Trang - Công Thị Nghĩa, một
nhà sử học Việt kiều chuyên viết về những nhân vật lịch sử
thời cận đại trong đó có Phan Châu Trinh và Hồ Chí Minh
và có sách in ở Việt Nam. Lá thư mà thực ra là một tài liệu
viết về tổ chức “Hội Tam điểm” ở Việt Nam mà cụ từng là
một người tham dự khá sâu sắc. Cụ viết để cung cấp thêm
những hiểu biết về tổ chức này mà Tiến sĩ Thu Trang mới chỉ
tiếp cận qua các nguồn tư liệu. Cụ bổ sung nhiều điều và cải
chính đôi điểu. Tôi biết nội dung bức thư vì chính cụ dặn đây
là thư ngỏ nên cứ đọc trước rồi sẽ chuyển sau. Hẳn cụ giữ ý
để tôi yên tâm mang giúp thư ra nước ngoài. Nhưng với tôi
lá thư khá dài ấy là một nội dung rất bổ ích về một tổ chức
hoạt động rất bí mật nhưng lại có không ít tác động vào lịch
sử Việt Nam thời cận đại (Pháp thuộc). Chính cụ đã mách
bảo tôi rằng trong thư viện và lưu trữ có những tài liệu cho
biết Cụ Hồ khi còn trẻ đã từng đến với tổ chức này cả ở Việt
Nam và ở Pháp... Sau này có người phát hiện ra tài liệu chứng
minh đúng như vậy...
Sau khi tôi chuyển bức thư sang Pháp, bà Tiến sĩ Thu
Trang đánh giá rất cao những thông tin cụ Phấn cung cấp và
có nhờ tôi chuyển lời cảm ơn và hy vọng có dịp gặp cụ ở Việt
Nam. Tôi cũng có ý định khai thác thêm những hiểu biết vể
cụ, nhưng công việc cứ bẵng đi theo thời gian... cho đến ngày
nghe tin cụ mất.
Thú thật, cho đến lúc này, khi bản thảo của cuốn sách mà
các bạn đang cẩm trên tay được các đổng nghiệp biên soạn
gửi tới tôi đọc trước, tôi được biết kỹ hơn những thông tin
vê' nhân thân và các hoạt động nghê' nghiệp của cụ Nguyễn
Trọng Phấn, tôi mới hiểu hơn cái nhận xét mà mẹ tôi từng
nói vê' cụ, một người danh giá.
Cuốn sách này rất mỏng, lại chỉ là những mẩu tư liệu
sưu tầm từ những sách báo của người phương Tây viết vê'
buổi tiếp xúc đầu tiên với đất nước và con người Việt Nam
vào thế kỷ XVII. Đó mới chỉ là những bài báo rút ra từ tờ
“Thanh Nghị”, sự tập hợp trách nhiệm của những trí thức có
tinh thần dân tộc vào thời điểm đang đón chờ cơ hội giành
độc lập cho đất nước khi chiến tranh Thế giới lần thứ II tạo
ra... Đúng như phụ đê' “thu nhặt tài liệu để giúp vào sự giải
quyết những vấn đê' quan hệ đến cuộc sinh hoạt của dân tộc
Việt Nam”, cụ Nguyễn Trọng Phấn và các bạn trí thức “đồng
chí” của mình đã làm mọi việc để đặt nền tảng cho một tư
duy mới, điều mà ngày nay ta hay dùng, là chuẩn bị tâm thế
cho công cuộc hội nhập với thế giới một khi nước nhà giành
được độc lập.
Năm Việt Nam giành được độc lập, cụ Nguyễn Trọng
Phấn mới 36 tuổi. Cụ Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, giữa
lúc còn phải “vật lộn” với nạn đói, nạn dốt và ngoại xâm vẫn
trân trọng kế thừa cái di sản khoa học của chế độ cũ mà ấn
định nhiệm vụ mới của Đông phương Bác cổ Học viện trên
cơ sở kế thừa toàn bộ những thành quả nghiên cứu và con
người của Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp lập ở Đông
Dương. Và cụ Nguyễn Trọng Phấn được đảm nhiệm vai trò
Chánh văn phòng và Thư ký của Hội đồng cố vẫn Học viện,
nơi tập hợp những tên tuổi danh giá như Nguyễn Văn Tố,
Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Cao Xuân Huy, Nguyễn
Đỗ Cung, Đặng Thai Mai, Nguyễn Thiệu Lâu, Đào Duy Anh,
Nam Sơn... và cả Ngô Đình Nhu và Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy
(tức Cựu hoàng Bảo Đại)...
Đọc cuốn sách này hẳn các bạn đọc quan tâm nhiều hơn
đến những thông tin vê' một vấn để lịch sử được nêu thành
tên sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII, nhưng riêng với tôi
lại quan tâm nhiều hơn đến thế hệ những người ẩn danh
như cụ Nguyễn Trọng Phẫn, những người không hiếm sống
quanh ta. Hoàn cảnh khiến cụ Nguyễn Trọng Phẫn không
thành danh như các nhà khoa học lớn, nhưng thế hệ của cụ
là thế hệ “làm sống lại những đoạn “Nam sử” mà hiện nay
nhiều người sao nhãng” từ cách đây hơn bảy thập kỷ. Những
người không thành danh ngoài xâ hội nhưng từng danh giá
trong tâm khảm những người cùng thời.
Lục tìm trong những tư liệu ngổn ngang của mình, tôi
kiếm được một tấm ảnh chụp chung với cụ cùng thầy Trần
Quốc Vượng và bạn Lê Cường (cháu nội cụ Lê Hoan), bức
ảnh chụp cách nay đã một phần tư thế kỷ nhân một cuộc hội
thảo về danh nhân Chu Văn An để in vào cuốn sách này như
một kỷ niệm vê' cụ Nguyễn Trọng Phấn (xin xem trang 188).
Cuối Thu 2015
Dương Trung Quốc
Lời thưa
ạn đọc đang cẩm trên tay cuốn sách Xã hội Việt Nam
từ thế kỷ XVII. Đây là tập hợp các bản dịch của nhà
báo, nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Phấn (1910 - 1996) trên
Tạp chí Thanh Nghị từ năm 1941 đến năm 1945. Nội dung
các bài viết mô tả xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII qua sự
quan sát, ghi chép của những người phương Tây đến Việt
Nam thuở đó.
B
Về nội dung cuốn sách, chúng tôi xin dành sự đánh
giá cho bạn đọc. Dưới đây, chúng tôi muốn giới thiệu đôi
dòng về tác giả của những bản dịch được đăng trên Tạp chí
Thanh Nghị. Chốc đà bảy chục năm trời, tác phẩm tưởng như
đã mất nhưng chúng tôi may mắn tìm được khá đầy đủ nhờ
công cuộc số hóa Tạp chí Thanh Nghị của Viện Viễn Đông
Bác cổ (Cộng hòa Pháp) tại Việt Nam. Một điểu trùng hợp là,
cụ Nguyễn Trọng Phấn, có lẽ, là thành viên người Việt Nam
cuối cùng của cơ sở khoa học này. Thọ gần 90 tuổi, gần trọn
cuộc đời sống và làm việc trong thế kỷ XX, cụ Nguyễn Trọng
Phấn làm một công việc thầm lặng là dịch thuật, giảng dạy
địa lý một thời gian ngắn ở Khu học xá Nam Ninh (Trung
Quốc) rồi gắn bó với công tác thư viện tại ủ y ban Khoa học
xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam) cho đến ngày nghỉ hưu nên ít người biết đến. Thậm
chí, có những cuốn sách do cụ viết ra và biên soạn nhưng
do hoàn cảnh lịch sử nên không đứng tên riêng. Duy nhất,
cụ Nguyễn Trọng Phấn - với bút danh Thiện Chân, đã tuyển
dịch những tư liệu của người phương Tây viết về: Xã hội Việt
Nam từ the kỷ XVII.
C húng tôi, th ế hệ hậu sinh chỉ làm m ột công việc
khiêm tố n là sưu tầm và đánh máy lại để Xã hội Việt Nam
từ thế kỷ XVII đến tay bạn đọc hôm nay.
Về nguyên tắc, chúng tôi tô n trọng tuyệt đối văn bản
tác phẩm. Chúng tôi chỉ chỉnh sửa những quy tắc chính tả
cho đúng với quy định xuất bản hiện hành. Một số chỗ, do
nguyên bản mờ chữ, hoặc mất trang, chúng tôi đểu có chú
thích rõ ràng. Phần mất trang trong bài “Nền thương mại của
xứ Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII”, dù đã cố gắng liên hệ
với một số nhà sưu tầm báo chí từ Bắc tới Nam, nhưng chúng
tôi vẫn chưa có may mắn để tìm được, ngõ hầu bổ khuyết
cho văn bản được hoàn thiện. Mong rằng, sau khi cuốn sách
ra đời, các nhà sưu tẩm, nghiên cứu và bạn đọc, nếu có được
phần thiếu khuyết đó, xin chia sẻ giúp cho chúng tôi.
M ột số chỗ, để giúp bạn đọc nắm rõ hơn, chúng tôi có
đưa vào một vài chú thích. Những phần chú thích của người
biên soạn chúng tôi đều có ghi cụ thể.
D o năng lực còn nhiều hạn chế, rất có thể trong quá
trình sưu tầm, biên soạn và giới thiệu còn những thiếu sót,
chúng tôi mong nhận được sự chỉ chính của bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng bạn đọc!
N hóm sưu tầm
Kiều Mai Sơn - Nguyễn Mạnh Sơn
Nguyễn Trung Thành
10
Lời tòa soạn
Y
định chúng tôi là làm cho nhiều người chú ý đến sự
tiến hóa của dân tộc Việt Nam và thu nhặt tài liệu
để tả sự tiến hóa ấy. Những bài sau đây chỉ là một công việc
bắt đầu: chúng tôi chọn và dịch những đoạn sách cổ ghi chép
việc thực tế đời sống của dần ta ngày xưa. Phê bình những sử
liệu ẫy là công việc sau đây sẽ làm. Từ cuối thế kỷ XVI, người
Âu châu đã sang ta và biên thuật vê' xã hội ta rất nhiều, bằng
các thứ tiếng La Tinh, Pháp, Anh, Đức, Y Pha Nho, Bồ Đào
Nha và Hòa Lan. Muốn chép sử ta một cách đầy đủ, chắc
chắn không những phải dùng hết tài liệu đó mà còn phải
nghiên cứu các sách vở của người Miên, Lào, Chiêm, Thái,
Thổ, Mường mà nhất là những sách chữ Nho, chữ Nôm mà
càng ngày càng ít người đọc và hiểu được m ột cách chu đáo.
Công việc đó quá sức một người hay một bọn ít người; vậy
chúng tôi rất hoan nghênh sự hợp tác của mọi người - Nho
học hay Tây học - cùng theo đuổi với chúng tôi một mục đích
là “làm sống lại” những đoạn Nam sử hiện nay nhiều người
đương sao nhãng.
Tạp chí Thanh Nghị
11
I.
ALEXANDRE DE RHODES
\ 9
Cố Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới
Trung kỳ năm 1624. Tháng Ba năm 1627 được cử
ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng Năm năm 1630
thì bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Cố
quay về Trung kỳ rỗi sang Áo Môn (Ma Cao bên
Tàu), đáu tháng Hai năm 1639 lại trở vê' Trung
kỳ. Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn, Công
Thượng vương^*\ cấm đạo, cố bị bắt và bị kết án
tử hình, nhưng không bị chém chỉ bị trục xuất ra
khỏi xứ (tháng Bảy năm 1645). Quyển Histoire du
Roỵaume de Tunquin trích dịch sau đây xuất bản
năm 1651 tại Lyon (Pháp) bằng tiếng Pháp.
<9
(1) Tức chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan), trị vì Đàng Trong từ 1635 - 1648.
(Toàn bộ chú thích không ghi Nguyên chú trong sách này đểu là chú thích cùa
nhóm sUu tẩm).
13
Lễ tịch điền về đời
Nội các tục được dân thành tâm theo ở Bắc có một tục
chính là tục hàng năm vào hồi đầu xuân thì theo để khai đất
và để khởi đầu việc cày bừa một cách long trọng. Cứ đầu năm,
tức là vào khoảng giữa hai tiết đông chí và xuân phân - theo
như lối ta tính thì vào tuần trăng non vào gần ngày mồng
năm tháng Hai dương lịch nhất, đến ngày các nhà toán số đã
chọn, thường thường vào mồng ba Tết, thì mọi người có chức
vụ, hay tước vỊ trong nghề võ hay văn, đều phải mặc lễ phục,
đeo ấn thụ vào cung để hộ tống vua ngự giá qua kinh thành ra
tới vùng nhà quê, theo nghi tiết tôi sẽ tả theo đây.
Quân lính gọi ở khắp trong nước về, dàn đi trước có thứ
tự và rất đông, vì họ đến mấy nghìn người, người nào cũng
đeo khí giới của đội mình, người thì cung tên, người thì
thương, giáo hay súng. Theo sau là các tướng và tất cả những
người quý phái, tùy theo chức phận, một phẩn cưỡi ngựa,
một phần cưỡi voi; ngựa và voi có tới hơn ba trăm con, đểu
đóng yên phủ bành sang trọng, đã dạy dỗ thuần thục.
Đại tướng thống lĩnh quân đội và là phó vương cầm
quyển trị nước, hiệu là chúa Thanh Đô vương^^* đi sau cùng
bọn quý tộc, ngồi trên một chiếc xe thấp thếp vàng, theo sau
có một con voi đóng bành lộng lẫy có người dắt, khi nào
chúa thích thì lại cưỡi và điểu khiển đủ mọi lối khiến cho
dân chúng vui thích ngắm nhìn tỏ vẻ kính cẩn và thán phục.
Đi bộ theo sau là một số đông vô kể, những ông nghè,
ông cử, ông tú mặc áo dải lụa hay gấm vóc màu tím thẫm,
mỗi người có thẻ bài chỉ rõ chức vụ và phẩm trật của mình.
(1)
Đẩu để của người dịch. Trong bài bao giờ cũng hết sức dịch theo đúng nguyên
văn vì thế có nhiẽu đoạn hơi khắc khổ và một vài điểu xét đoán sai của tác giả,
người dịch cũng vẫn để. (Nguyên chú)
(2) Tức Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1577 - 1657).
14
Sau cùng đến đức vua, ngồi trên một chiếc kiệu chói lọi
phủ một tấm rèm quý giá thêu kim tuyến và màu xanh, màu
ấy là màu riêng vua mới được dùng.
Theo hàng thứ và nghi trượng như thế, đức vua ra khỏi
hoàng cung vẫn gọi là Đền, chu vi rộng bằng một tỉnh lớn,
rồi qua những phố chính kinh thành, thường gọi là Kẻ Chợ,
mà chảy đến một nơi đồng rộng cách kinh thành chừng gẩn
một dặm; ở đó các quan đi hộ giá đến từ trước và dân chúng
đã đợi sẵn để đón vua. Đến nơi đức vua xuống kiệu và sau khi
đã khẫn nguyện và rót rượu tế trời. Ngài thân cầm lẫy cán một
chiếc cày có vẽ màu và chạm trổ rất đẹp, cày đất vài phút và mở
một luống trong cánh đồng, để dạy cho dân chúng biết rằng
từ đây phải làm lụng, bỏ sự an nhàn và chăm nom đồng áng.
Đức vua cày xong rỗi, thì chúa Trịnh là người quản trị
nước có thế lực rất lớn và có uy quyền trên hết cả thần dân,
tiến đến gần, vái vua, mình cúi rạp xuống tận đất. Rồi các
hoàng thân, các võ tướng và các quan cũng làm như vậy; sau
cùng thì đến lính và cả quần dân quỳ xuống mà tung hô vua.
Hàng năm về đầu xuân, đó là sự tôn kính, sự báo ơn long
trọng nhất của thần dân đối với vua.
(Chương III, trang 11 -13)
Đất kinh kỳ về đẩu thế kỷ XVII
Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân
cận khiếp sợ, là số dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyển
vua cai trị, cứ xem số người thường ở Kẻ Chợ là nơi vua lập
triều đình thì đủ biết. Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu nghìn
bộ^*', ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay
(1) Một bộ bằng năm thước, chỉ đơn vị đo chiểu dài thời xUa. Mỗi thước là khoảng
0,425m. 1 bộ = 2,125m, 6.000 bộ = 12.750m = 12,75km.
15
mười hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế
mà mỗi tháng hai kỳ - vào rằm, mồng một là ngày dân nghỉ
lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua lại khắp mọi phổ đến
nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào cũng
bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được
mấy bước đường.
Do đẫy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người
ta thường ước dân số kinh kỳ được một triệu người. Không
kể những điều khác, lại còn một điểu này làm cho ta thấy số
dân rất đông sống ở đây.
Người Bắc có tục án trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có
vị ngon, bao giờ họ cũng giắt theo vào thắt lưng một giỏ con
hay một bao đầy trầu cau, ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi
sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi người nhận lẫy một
miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong tỉnh kẻ
nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem
biếu lẫn nhau để tỏ tình thân mật; nhưng còn thường dân
vẫn ăn trầu mà không có kẻ hầu têm sẵn ở nhà, thì đã có tới
năm vạn hàng bán trẩu lẻ rải rắc khắp kinh thành. Vậy có thể
kết luận rằng số người mua đông không thể tính xuể được.
(Chương VII, trang 25 - 27)
Nhân dân và thuế má
... Trừ những người được nhà vua miễn sưu còn thì trai
tráng từ mười chín đến sáu mươi tuổi đều phải đóng thuế.
Chỉ có khác là dân ba tỉnh vẫn trung thành với nhà vua và
xưa không theo giặc, thì đóng một số tiền đem đổi sang tiến
ta vào độ hai đổng, mỗi đổng ăn sáu mươi xu (deux escus de
soixante sols pièce); còn dân bốn tỉnh đã bỏ vua theo giặc thì
16
mỗi người phải đóng nhiều gấp bốn, ấy là không kể mấy thứ
thuế vua đặt ra để trừng phạt sự phiến loạn của họ. Ngoài thứ
thuế thân này là thứ bọn phu thu nhẫn tâm bắt nộp không
trừ một li, không phân biệt kẻ nghèo, người giàu, người có
của hay kẻ chỉ làm lụng để độ thần^*\ còn một thứ thuế nữa
nhẹ hơn, đánh theo thồ sản, có tính cách một tặng vật do dân
tự ý đem cống hiến nhà vua hơn là một thứ thuế thật, tuy
rằng đến vụ thu, mỗi năm ba bốn lần, chả một ai dám tránh.
Vụ thứ nhất thu vào cuối năm hay đầu năm như biếu Tết. Vụ
thứ hai vào khi vua làm lễ “Vạn thọ” (sinh nhật). Vụ thứ ba
vào ngày húy (giỗ) tiên vương. Vụ thứ tư vào hồi có gạo quả
mới. Vì các vật cung tiến này không thu ngặt như thuế thân
nên dân mỗi tỉnh, mỗi làng góp của nhau vào chung, rồi cử
người xứng đáng nhất thay mặt đem tiến vua.
Hầu khắp những tỉnh, những xã trong nước - nhiều
không sao kể xiết được - nộp thuế thẳng cho vua hay cho
người thay mặt vua đứng ra thu, nhưng cũng có nhiều nơi
nộp cho các vương hầu tướng tá và binh lính hay cho những
người vua xét ra đáng thưởng và đã cấp cho vài nơi để hưởng
thuế lợi, hoặc là để khen tài đức họ, thưởng công họ, hoặc là
để lập thái ấp lúc họ mới sinh hoặc là để cấp dụng vào chức
vụ đã giao cho họ, hoặc để ban thưởng việc gì khác: theo lệ
trong nước thì quyển lợi vua đã ban cho một người, con cái
hay kẻ thừa kế không được thưởng nếu nhà vua không bằng
lòng cho lại. Mà ngay khi người ấy còn sống, vua cũng còn
quyển thu lại của đã ban cho, như thỉnh thoảng ta đã thấy;
tuy nhiên, chỉ khi nào để trừng phạt một tội lỗi gì nặng thì
vua mới dùng tới cách nghiêm ngặt ấy.
(Chương VIII, trang 28 - 30)
(1) Độ thẩn nghĩa như Độ nhật: sống lẩn hổi cho qua ngày.
17
Quân lính và tướng tá
Đức vua đã ban thành thị cho các tướng tá để đền công vê'
những nỗi vất vả của họ, thì ngài cũng cấp vài nơi cho những
lúih xuất sắc để họ có lương án và để thưởng lòng anh dũng
của họ: có khác là ngài thường cấp nhiều nơi cho một viên
tướng mà chỉ cấp một nơi cho nhiều tên lính; thành thử một
thị trấn không to tát gì nhiều khi cũng nuôi đủ binh lính cả
một chiếc chiến thuyền; ở nơi đã cấp cho mình, bọn lính có
quyền thu thuế dân vẫn nộp cho nhà vua.
Còn như đối với hạng lính không được trọng đãi như thế
thì thường thường, các tướng thay mặt vua trả lương cho họ;
một phẩn cũng vì những khoản chi phí ấy và để nuôi một số
lính, nên vua mới cấp cho những viên tướng nhiều thị trấn
để lấy thuế. Bởi vậy nên khi không có chiến tranh hay không
phải luyện tập, lính ăn lương của tướng hoàn toàn để tướng
sai khiến bắt hầu hạ mình làm công việc phu phen hay làm
mọi việc công ích, như đóng thuyền, hàn thuyền, xây sửa cầu
cống và những việc tương tự như thế, thành thử chả lúc nào
họ nhàn rỗi và không có việc làm.
Những tướng tá lưu trú ở kinh sáng nào cũng phải vào
hẩu vua và dự vào buổi chầu ngài thiết ở cung để cho dân
chúng có nguyện vọng gì thì dâng lên; khi đi chầu tướng nào
cũng có một ít bộ hạ đi dàn trước, có thứ tự, có khí giới và
mặc áo choàng màu tím thẫm; khi về, lính lại hộ vệ đến tận
nhà. Được phục dịch tướng như thế là một việc vinh dự,
quân cắt phiên nhau mà làm.
Khi vua ra ngoài điện hoặc để dạo chơi về thừa lâu^^^ tại
vùng thôn quê, hoặc để thử chiến thuyền mới sai đóng, hoặc
(1) Ihừa lâu: là những tòa nhà (hành cung) giống như những dịch trạm được
dựng lên trên đường vua đi vi hành để nghỉ ngơi.
18
để xem quân lính mỗi tháng hai kỳ tập bắn hay đánh vật, vì
các tướng có mặt tại triều đi tùy giá, nên quân lính bao giờ
cũng dự rất đông, bảnh bao trong những bộ áo hiệu như họ
thường mặc để đi dàn trước long giá khiến cho nghi trượng
có vẻ lộng lẫy.
Mỗi khi vua ngự về vùng thôn quê như kể trên đây, không
những chỉ có toán bộ binh uy phong này đi trước hộ giá mà
thôi, lại còn có cả một đội kỵ mã đã chọn lọc và hơn một trăm
cỗ tượng mình phủ gấm vóc trên có các vương phi, công chúa
và bọn nữ tỳ ngồi thảnh thơi trong những chiếc bành thấp
đóng chắc vào lưng voi, voi khỏe có thể mang tới sáu người
trong bành, ấy là chưa kể tên quản tượng cưỡi trên cổ.
Vì thế khi vua ra chứng kiến những cuộc tập binh hay
đánh vật, quân lính được khuyến lệ vô cùng vì ngoài đức vua
họ còn có số khán giả mỹ lệ, cao quý kia để tán thưởng sự
khéo léo và giỏi giang của họ.
Vê' việc đánh vật có điều này tôi không thể bỏ qua được:
bên nào đã bị bên địch nhanh tay hay lấy sức đánh ngã xuống
đất cũng chưa kể là thua, tuy bụng hay sườn đã chạm xuống
đất, có bị vật ngã ngửa vai sát đất thì mới thua hẳn.
(Chương IX, trang 31 -33)
Lễ tuyên thệ của binh lính
Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ
Bắc đông như thế, đặt dưới quyển lắm tướng như thế, hay hội
họp canh gác, xếp hàng ngũ hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng
thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những bữa khao, nhà vua
và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy họ
cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng
không bao giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.
19
... Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ
vốn lành, nhưng cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ
tôn kính và sùng bái vua và tướng. Họ gọi vua là thiên tử và
sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự trên trời xuống
để cai trị họ, vì thế trước mặt ngài, không bao giờ họ làm gì
khiến ngài thất ý hay phải tức giận. Sự sùng bái ẫy là căn bản
cái tục họ theo hàng năm như sau đây.
Vào quãng tháng Sáu nguyệt lịch*^^ - thường thường
vào tháng Tám của ta*^^ - vua ban một đạo dụ truyền cho
quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng trung thành
với vua... ở các công trường, ở các ngả đường chính trong
kinh thành người ta thiết lập những hương án bầy biện trang
hoàng vẫn để thờ thần: ở chính giữa hương án, đã biên lời
thề bằng chữ to, họ đứng dưới chân hương án cũng nom rõ;
hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải trăm nghìn thứ tai
nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và
lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều
hương án, mỗi hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy
đội lính, có một quan ván được cử ra thay vua để làm chủ lễ
và để sau khi đâ tuyên thệ rồi thì phát cho mỗi tên lính một
mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được nhận vào
làm lính nhà vua. Tướng từng đội lên trước, long trọng thể
giữ trung với nhà vua, rồi lần lượt đến quần lính, viên chủ
lễ phát cho mỗi tên một mảnh giấy biên chữ khác nhau, tùy
theo giọng nói lúc tên ấy tuyên thệ.
Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh
nghĩa là “rõ”. Ai nói nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa
“không rõ”. Còn lại nói giọng vừa phải thì được chữ thuận
nghĩa là “thường”. Những m ảnh giẫy ấy không phải là vô
giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ
(1) Tức âm lịch.
(2) Tức tháng 8 dương lịch.
20
tướng, (ô n g nào thể xong về ngay) thì được chủ tướng phát
cho một chiếc áo vua ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo
tốt và dài; ai có chữ thuận thì được áo ngắn hơn bằng vải
thường; ai phải chữ bất minh thì áo vải xấu và ngắn nữa.
Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được
người lính nào trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong
hàng ngũ của nhà vua.
(Chương X, trang 34 - 36)
Nền thương mại của xứ Đàng Ngoài
ở đẩu thế kỷ thứ XVII
Người xứ Bắc - gần như không thông thương gì với nước
ngoài vì ba lẽ chính.
Lẽ thứ nhất vì họ không biết dùng địa bàn, không thạo
nghề hàng hải; không bao giờ dám ra xa bờ hay núi quá tầm
mắt. Lẽ thứ hai thuyền họ không bền được với sóng, bão,
ván thuyền không đóng đinh, không có chốt mà chỉ có đai
buộc, mỗi năm là phải thay một lần. Lẽ thứ ba là vua không
cho dân ra nước ngoài, sợ rồi quen ở lại buôn bán làm thiệt
mất thuế của vua. Nhưng hàng năm, ngài cũng phái vài chiếc
thuyền buôn sang Cao Man, Xiêm La vì hai xứ này không
xa Đàng Ngoài là mấy và thuyền buôn cứ theo ven bờ mà đi
không phải ra khơi.
- Tuy nhiên không ra khỏi nước Nam, nước này gồm
có Đàng Ngoài và Đàng Trong, bọn lái buôn bản xứ nhờ có
thương cảng tiện lợi và nhiều nên buôn bán cũng lớn và lợi
lãi hàng năm gấp hai, gấp ba vốn mà không phải chịu những
sự bất trắc thường gặp trên mặt bể. Thật vậy, ở dọc bờ bể
nước Nam dài hơn ba trăm nám mươi dặm tây, ta đếm được
21
hơn năm mươi thương cảng, có nhiều sông con dồn nước vể,
và có thể chứa được mười, mười hai chiếc tầu lớn, thành ra ai
đi lại trên mặt bể, đêm đêm có thể rút vào đậu trong các bến
này không phải bỏ neo ở ngoài khơi và tránh được những tai
nạn không hiếm gì trên mặt biển.
Vê' các khách thương ngoại quốc thật ra thì từ hồi nào
người Nhật Bản, người Trung Hoa vẫn vào các bến nước
Nam, mua lụa và gỗ trầm hương.
Người Trung Hoa bây giờ vẫn còn buôn bán, và đem sang
những đồ sứ, vải, và nhiều thứ hàng giải trí và xa xỉ. Người
Nhật Bản trước kia đem nhiều tiền đến để mua lụa, và đem
nhiều thứ kiếm và các khí giới khác đến bán, đã hai mươi
nhăm năm nay không lai vãng nữa, vì được tin rằng tuy đã
có lệnh cấm đạo Gia-tô ở Nhật Bản từ nám 1614, trong gần
10 năm trời người Nhật theo đạo mỗi năm vào mùa...*^' và ba
bốn lần vào các dịp khác, vẫn lấy cớ là đi buôn rồi dùng hàng
ba bốn chiếc tàu sang nước [.. .]'^^
(1) Thiếu một chữ do bản gốc bị mờ.
(2) Bản gốc thiếu một đoạn.
22
s.
^9
II.
CRISTOPORO BORRI
Cố Cristoíoro Borri (1585 - 1632) là m ột cố
đạo người Ý sang Trung kỳ vào khoảng 1618 1621 (?); đến 1623 thì qua Goa**^ về Âu châu.
Quyển Relatione delỉa nuova missione deỉli
p.p. della Compagnia di Giesù al Regno della
Cocincina, xuất bản ở Rome bằng tiếng Ý năm
1631 là quyển sách in đầu tiên của Âu châu nói
về Trung kỳ. Sách có dịch ra tiếng Pháp (bản
của cố Antoine de la Croix in ở Lille năm 1631),
tiếng Hòa Lan, La Tinh, Đức, Anh. Tạp chí Revue
Indochinoise, năm 1908, có đem đăng lại bản dịch
của cố Antoine de la Croix (chúng tôi cũng dịch
đăng theo bản này).
Sách có hai phần. Phần trên nói vê' vị trí, khí
hậu, thổ sản, tài nguyên, chính trị, thương mại
của xứ Trung kỳ; dưới nói vê' việc truyền giáo.
Xin nhắc lại là chúng tôi chỉ mới trích dịch'^^
chưa phê bình chọn lọc.
Q)
ỉ
(0
(1) Một tiểu bang nhỏ nhất của Ấn Độ nằm ở phía Tầy. Tên gọi theo tiếng Konkani
là Gomya, tiếng Bồ Đào Nha là Goa.
(2) Bạn đọc có thể đọc trọn vẹn cuốn sách qua bản dịch Xứ Đàng Trong năm 1621
do Hổng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, Nxb. Tổng hợp
Thành phố Hổ Chí Minh tái bản, 2014, (lẫn dẫu in năm 1998).
23
Tính tình người Trung kỳ
Người Trung kỳ không khác người Trung Hoa vê' màu
da mặt, và người nào cũng sắc xanh nhạt, đây là nói những
người ở gần bể, bởi vì những người ở tận trong đất liền cho
tới đất xứ Bắc kỳ cũng trắng như người Âu châu.
Ngoài nét mặt, họ còn giống người Trung Hoa vì mũi tẹt,
mắt nhỏ; vê' vóc người thì họ tầm thước: tôi muốn nói là họ
không nhỏ bé như người Nhật Bản mà cũng không cao như
người Trung Hoa. Nhưng vê' sức lực và dáng người thì họ
vượt trên người Trung Hoa và người Nhật Bản; vê' can đảm
và tài năng, họ đứng trước người Trung Hoa, nhưng người
Nhật Bản hơn họ về một chỗ là khinh sự sống trong những
lúc gian nguy và chiến trận, vì không kể gì đến thân mình,
người Nhật không sợ chết bẫt cứ bằng cách nào.
Người Trung kỳ hiền lành và có lễ độ trong lúc nói chuyện
hơn các dân tộc khác ở Đông phương và họ coi sự giận dữ là
một điều ô nhục tuy họ rất tự cao. Các dân tộc Đông phương
coi người Âu châu như những quân phàm tục và tự nhiên
kinh sợ ta đến nỗi khi thuyên ta ghé vào đất họ, họ trốn tránh
cả. ở Trung kỳ thì trái hẳn lại: Dân Trung kỳ tranh nhau đến
gần ta, hỏi ta hàng nghìn câu, mời ta ăn với họ; nói tóm lại,
đối với ta, họ dùng đủ mọi điểu lịch sự, nhã nhặn, thân mật.
Tôi và các bạn đổng hành đã thấy như thế khi chúng tôi mới
vào xứ này lần đầu và người ta có thể nói là chúng tôi đến
giữa các bạn rất thân, biết nhau đã từ lâu...
"Vi bản tính họ rộng rãi và phong tục dễ dàng nên họ ở
với nhau rẫt có hòa khí, cư xử với nhau ngay thực và chân
thành như anh em ruột cùng sống, cùng ở trong một nhà
tuy họ chưa gặp nhau và biết nhau bao giờ. "Và họ coi là một
người đê hèn, nếu kẻ nào giữ lấy ăn một mình một thức gì dù
24
bé nhỏ vụn vặt đến đâu mà không đem chia cho kẻ khác mỗi
người một phần. Họ có thảo tâm hay bố thí cho kẻ nghèo,
chẳng bao giờ từ chối làm phúc cho ăn mày vì họ coi như đã
thiếu bổn phận nếu họ không cho, và lẽ công bằng bắt buộc
họ phải giúp đỡ.
Bởi thế nên một lần có mấy người ngoại quốc bị đắm tầu
bơi được vào một thương cảng Trung kỳ, không biết thổ ngữ
để có thể hỏi xin những thức cần dùng, chỉ phải học có mỗi
một tiếng: Doii, nghĩa là tôi đói. Bởi vì khi nghe thấy mấy
người ngoại quốc than như thế và đi qua cửa nhà họ kêu đói,
thì người Trung kỳ đua nhau ra ngõ, tỏ vẻ ái ngại và cho mẫy
người đó ă n ...
Nhưng người Trung kỳ rộng rãi và sẵn lòng cho nhanh
bao nhiêu thì khi ngó thấy cái gì là lạ và hiếm, lập tức họ ham
muốn và nói ngay: Scin mocaii (nghĩa là cho tôi xin một vật
kia). Và họ coi là một điều đại bất nhã nếu ta từ chối, không
cho họ một vật, dù hiếm, dù có giá, dù ta chỉ có một bản; kẻ
từ chối là một thằng bủn xỉn. Nên khi cẩn chỉ có thể: một là
đem giấu vật mình muốn giữ lại, hai là sẵn sàng cho kẻ đã
hỏi xin.
Một khách thương Bồ Đào Nha ý chừng không thích
cách hành động lạ lùng ấy - mấy người thích cho được - và
ngày nào cũng bị bực mình phải cho những vật đẹp mà họ
thấy anh ta cầm tay, một hôm có ý kiến là anh ta cũng xử
sự như họ. Định tâm thế, anh ta đến gần thuyền một chú
chài nghèo khổ, để tay lên một sọt đầy cá, nói theo tiếng bản
xứ Scin mocaii (cho tôi cái này); chú chài chẳng nói chẳng
rằng cho luôn anh ta cả sọt cá. Anh Bổ Đào Nha đem sọt cá
vể, không khỏi ngạc nhiên và lạ lùng vê' tính hào phóng của
người Trung kỳ. Thật ra thì sau này ái ngại cho chú chài, anh
ta có đem trả đúng số tiền chỗ cá ẫy.
25
Những tiếng dùng để nói chuyện, thường dùng trong
cuộc xã giao hay dùng trong các lễ nghi cũng tựa như người
Trung Hoa. Kẻ dưới rất kính cẩn với người trên; người ngang
hàng đối với nhau rất tương kính đúng mực, chúc tụng khen
ngợi nhau cũng tỉ mỉ như người Trung Hoa. Họ tôn trọng
đặc biệt các bậc lão thành: trong bất cứ việc gì, ở giai cấp
nào, trong trường hợp nào, họ cũng nhường người hơn tuổi
và để tuổi già được ưu đẳng đối với hạng thiếu niên. Vì thế
có mấy ôn...
XÃ HỘI
VIỆT NAM
từ 'thé kỳ XVII
Thu nhặt tài liệu để giúp vào sự giải quyết những vấn để
quan hệ đến cuộc sinh hoạt của dân tộc Việt Nam
(Tạp chí Thanh Nghị)
Kiều Mai Sơn, N guyễn M ạnh Sơn, Nguyễn T rung Thành
(Sưu tầm, giới thiệu)
NHÀXUẤTBẢNTỔNGHỢPTHÀNHPHỐHỔCHÍMINH
Đôi lời về một người ẩn danh
(Thay lời tựa sách)
ôi tốt nghiệp trung học phổ thông rồi theo học Khoa
Lịch sử trường Đại học Tổng hợp đúng thời điểm
chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc (1964 - 1965). Tốt
nghiệp về nhận việc ở Viện Sử học Việt Nam (1969) thì chỉ
ít lâu sau lại đi sơ tán cũng vì cuộc chiến tranh phá hoại trở
nên ác liệt hơn với những trận rải bom của B52 vào lòng Thủ
đô Hà Nội...
T
Nhắc lại điều đó để tôi giải thích vì sao khi thực sự bước
vào cuộc đời nghê' nghiệp, mà tôi lại chưa đến khai thác tài
liệu tại một trong những thư viện quý nhất khi đó là Viện
Thông tin Khoa học xã hội, nơi được thừa kế kho sách vô giá
của Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp tại Hà Nội. Đương
nhiên những năm sau này tôi vẫn thường xuyên đến đọc tài
liệu tại đây, nhưng thời điểm ấy, tôi không còn được gặp một
người là tác giả của cuốn sách mà các bạn cầm trên tay: cụ
Nguyễn Trọng Phấn.
Tôi chỉ gặp cụ Phấn khi cụ đã nghỉ hưu. Một ông già khi
đó đã ngoài bảy mươi, tóc râu đã bạc, lưng lại còng nhưng
lúc nào cũng cắp trên tay những cuốn sách dày mà sau này
khi không còn đủ sức cụ cho vào một cái bị xách bên mình.
Tôi không hiểu những cuốn sách ấy cụ đang sử dụng dở dang
hay mang theo chỉ là một thói quen không bỏ được. Dáng vẻ
hiền từ nhưng ít nói. Tôi chỉ được mọi người giới thiệu đó là
một cán bộ cũ của thư viện.
Sau này, khi tôi hoạt động nhiều trong công việc của Hội
Sử học, tổ chức những sinh hoạt như phổ biến kiến thức,
hội thảo kỷ niệm các sự kiện hay nhân vật lịch sử, luôn thấy
vị khách lão thành ấy có mặt. Khiêm nhường ngồi ở những
hàng ghế sau ít ai để ý. Nhưng với các bậc lão thành, nhất
là trong giới nghiên cứu thì mọi người đều tỏ sự kính trọng
khi gặp cụ. Dần dà tôi biết nhiều hơn vê' con người này. Hỏi
chuyện cụ, nhất là liên quan đến sách vở cái gì cụ cũng am
tường ẩn sau cách nói rất khiêm nhường. Hơn thế thi thoảng
cụ còn đến nhà tôi, khi đó sống trong khu phố cổ. Không gặp
tôi thì trò chuyện với mẹ tôi, cũng thuộc hạng người cũ của
Hà Nội nhưng ít hơn cụ hơn chục tuổi. Câu chuyện giữa họ
là gì tôi không rõ, nhưng mẹ tôi luôn tỏ sự tôn trọng và chỉ
nói với tôi rằng ngày xưa cụ ấy thuộc hạng người “danh giá”.
Một lần tôi có dịp sang Pháp, cụ Phấn đến nhờ tôi gửi
một lá thư cho bà Tiến sĩ Thu Trang - Công Thị Nghĩa, một
nhà sử học Việt kiều chuyên viết về những nhân vật lịch sử
thời cận đại trong đó có Phan Châu Trinh và Hồ Chí Minh
và có sách in ở Việt Nam. Lá thư mà thực ra là một tài liệu
viết về tổ chức “Hội Tam điểm” ở Việt Nam mà cụ từng là
một người tham dự khá sâu sắc. Cụ viết để cung cấp thêm
những hiểu biết về tổ chức này mà Tiến sĩ Thu Trang mới chỉ
tiếp cận qua các nguồn tư liệu. Cụ bổ sung nhiều điều và cải
chính đôi điểu. Tôi biết nội dung bức thư vì chính cụ dặn đây
là thư ngỏ nên cứ đọc trước rồi sẽ chuyển sau. Hẳn cụ giữ ý
để tôi yên tâm mang giúp thư ra nước ngoài. Nhưng với tôi
lá thư khá dài ấy là một nội dung rất bổ ích về một tổ chức
hoạt động rất bí mật nhưng lại có không ít tác động vào lịch
sử Việt Nam thời cận đại (Pháp thuộc). Chính cụ đã mách
bảo tôi rằng trong thư viện và lưu trữ có những tài liệu cho
biết Cụ Hồ khi còn trẻ đã từng đến với tổ chức này cả ở Việt
Nam và ở Pháp... Sau này có người phát hiện ra tài liệu chứng
minh đúng như vậy...
Sau khi tôi chuyển bức thư sang Pháp, bà Tiến sĩ Thu
Trang đánh giá rất cao những thông tin cụ Phấn cung cấp và
có nhờ tôi chuyển lời cảm ơn và hy vọng có dịp gặp cụ ở Việt
Nam. Tôi cũng có ý định khai thác thêm những hiểu biết vể
cụ, nhưng công việc cứ bẵng đi theo thời gian... cho đến ngày
nghe tin cụ mất.
Thú thật, cho đến lúc này, khi bản thảo của cuốn sách mà
các bạn đang cẩm trên tay được các đổng nghiệp biên soạn
gửi tới tôi đọc trước, tôi được biết kỹ hơn những thông tin
vê' nhân thân và các hoạt động nghê' nghiệp của cụ Nguyễn
Trọng Phấn, tôi mới hiểu hơn cái nhận xét mà mẹ tôi từng
nói vê' cụ, một người danh giá.
Cuốn sách này rất mỏng, lại chỉ là những mẩu tư liệu
sưu tầm từ những sách báo của người phương Tây viết vê'
buổi tiếp xúc đầu tiên với đất nước và con người Việt Nam
vào thế kỷ XVII. Đó mới chỉ là những bài báo rút ra từ tờ
“Thanh Nghị”, sự tập hợp trách nhiệm của những trí thức có
tinh thần dân tộc vào thời điểm đang đón chờ cơ hội giành
độc lập cho đất nước khi chiến tranh Thế giới lần thứ II tạo
ra... Đúng như phụ đê' “thu nhặt tài liệu để giúp vào sự giải
quyết những vấn đê' quan hệ đến cuộc sinh hoạt của dân tộc
Việt Nam”, cụ Nguyễn Trọng Phấn và các bạn trí thức “đồng
chí” của mình đã làm mọi việc để đặt nền tảng cho một tư
duy mới, điều mà ngày nay ta hay dùng, là chuẩn bị tâm thế
cho công cuộc hội nhập với thế giới một khi nước nhà giành
được độc lập.
Năm Việt Nam giành được độc lập, cụ Nguyễn Trọng
Phấn mới 36 tuổi. Cụ Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, giữa
lúc còn phải “vật lộn” với nạn đói, nạn dốt và ngoại xâm vẫn
trân trọng kế thừa cái di sản khoa học của chế độ cũ mà ấn
định nhiệm vụ mới của Đông phương Bác cổ Học viện trên
cơ sở kế thừa toàn bộ những thành quả nghiên cứu và con
người của Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp lập ở Đông
Dương. Và cụ Nguyễn Trọng Phấn được đảm nhiệm vai trò
Chánh văn phòng và Thư ký của Hội đồng cố vẫn Học viện,
nơi tập hợp những tên tuổi danh giá như Nguyễn Văn Tố,
Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Cao Xuân Huy, Nguyễn
Đỗ Cung, Đặng Thai Mai, Nguyễn Thiệu Lâu, Đào Duy Anh,
Nam Sơn... và cả Ngô Đình Nhu và Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy
(tức Cựu hoàng Bảo Đại)...
Đọc cuốn sách này hẳn các bạn đọc quan tâm nhiều hơn
đến những thông tin vê' một vấn để lịch sử được nêu thành
tên sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII, nhưng riêng với tôi
lại quan tâm nhiều hơn đến thế hệ những người ẩn danh
như cụ Nguyễn Trọng Phẫn, những người không hiếm sống
quanh ta. Hoàn cảnh khiến cụ Nguyễn Trọng Phẫn không
thành danh như các nhà khoa học lớn, nhưng thế hệ của cụ
là thế hệ “làm sống lại những đoạn “Nam sử” mà hiện nay
nhiều người sao nhãng” từ cách đây hơn bảy thập kỷ. Những
người không thành danh ngoài xâ hội nhưng từng danh giá
trong tâm khảm những người cùng thời.
Lục tìm trong những tư liệu ngổn ngang của mình, tôi
kiếm được một tấm ảnh chụp chung với cụ cùng thầy Trần
Quốc Vượng và bạn Lê Cường (cháu nội cụ Lê Hoan), bức
ảnh chụp cách nay đã một phần tư thế kỷ nhân một cuộc hội
thảo về danh nhân Chu Văn An để in vào cuốn sách này như
một kỷ niệm vê' cụ Nguyễn Trọng Phấn (xin xem trang 188).
Cuối Thu 2015
Dương Trung Quốc
Lời thưa
ạn đọc đang cẩm trên tay cuốn sách Xã hội Việt Nam
từ thế kỷ XVII. Đây là tập hợp các bản dịch của nhà
báo, nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Phấn (1910 - 1996) trên
Tạp chí Thanh Nghị từ năm 1941 đến năm 1945. Nội dung
các bài viết mô tả xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII qua sự
quan sát, ghi chép của những người phương Tây đến Việt
Nam thuở đó.
B
Về nội dung cuốn sách, chúng tôi xin dành sự đánh
giá cho bạn đọc. Dưới đây, chúng tôi muốn giới thiệu đôi
dòng về tác giả của những bản dịch được đăng trên Tạp chí
Thanh Nghị. Chốc đà bảy chục năm trời, tác phẩm tưởng như
đã mất nhưng chúng tôi may mắn tìm được khá đầy đủ nhờ
công cuộc số hóa Tạp chí Thanh Nghị của Viện Viễn Đông
Bác cổ (Cộng hòa Pháp) tại Việt Nam. Một điểu trùng hợp là,
cụ Nguyễn Trọng Phấn, có lẽ, là thành viên người Việt Nam
cuối cùng của cơ sở khoa học này. Thọ gần 90 tuổi, gần trọn
cuộc đời sống và làm việc trong thế kỷ XX, cụ Nguyễn Trọng
Phấn làm một công việc thầm lặng là dịch thuật, giảng dạy
địa lý một thời gian ngắn ở Khu học xá Nam Ninh (Trung
Quốc) rồi gắn bó với công tác thư viện tại ủ y ban Khoa học
xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam) cho đến ngày nghỉ hưu nên ít người biết đến. Thậm
chí, có những cuốn sách do cụ viết ra và biên soạn nhưng
do hoàn cảnh lịch sử nên không đứng tên riêng. Duy nhất,
cụ Nguyễn Trọng Phấn - với bút danh Thiện Chân, đã tuyển
dịch những tư liệu của người phương Tây viết về: Xã hội Việt
Nam từ the kỷ XVII.
C húng tôi, th ế hệ hậu sinh chỉ làm m ột công việc
khiêm tố n là sưu tầm và đánh máy lại để Xã hội Việt Nam
từ thế kỷ XVII đến tay bạn đọc hôm nay.
Về nguyên tắc, chúng tôi tô n trọng tuyệt đối văn bản
tác phẩm. Chúng tôi chỉ chỉnh sửa những quy tắc chính tả
cho đúng với quy định xuất bản hiện hành. Một số chỗ, do
nguyên bản mờ chữ, hoặc mất trang, chúng tôi đểu có chú
thích rõ ràng. Phần mất trang trong bài “Nền thương mại của
xứ Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII”, dù đã cố gắng liên hệ
với một số nhà sưu tầm báo chí từ Bắc tới Nam, nhưng chúng
tôi vẫn chưa có may mắn để tìm được, ngõ hầu bổ khuyết
cho văn bản được hoàn thiện. Mong rằng, sau khi cuốn sách
ra đời, các nhà sưu tẩm, nghiên cứu và bạn đọc, nếu có được
phần thiếu khuyết đó, xin chia sẻ giúp cho chúng tôi.
M ột số chỗ, để giúp bạn đọc nắm rõ hơn, chúng tôi có
đưa vào một vài chú thích. Những phần chú thích của người
biên soạn chúng tôi đều có ghi cụ thể.
D o năng lực còn nhiều hạn chế, rất có thể trong quá
trình sưu tầm, biên soạn và giới thiệu còn những thiếu sót,
chúng tôi mong nhận được sự chỉ chính của bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng bạn đọc!
N hóm sưu tầm
Kiều Mai Sơn - Nguyễn Mạnh Sơn
Nguyễn Trung Thành
10
Lời tòa soạn
Y
định chúng tôi là làm cho nhiều người chú ý đến sự
tiến hóa của dân tộc Việt Nam và thu nhặt tài liệu
để tả sự tiến hóa ấy. Những bài sau đây chỉ là một công việc
bắt đầu: chúng tôi chọn và dịch những đoạn sách cổ ghi chép
việc thực tế đời sống của dần ta ngày xưa. Phê bình những sử
liệu ẫy là công việc sau đây sẽ làm. Từ cuối thế kỷ XVI, người
Âu châu đã sang ta và biên thuật vê' xã hội ta rất nhiều, bằng
các thứ tiếng La Tinh, Pháp, Anh, Đức, Y Pha Nho, Bồ Đào
Nha và Hòa Lan. Muốn chép sử ta một cách đầy đủ, chắc
chắn không những phải dùng hết tài liệu đó mà còn phải
nghiên cứu các sách vở của người Miên, Lào, Chiêm, Thái,
Thổ, Mường mà nhất là những sách chữ Nho, chữ Nôm mà
càng ngày càng ít người đọc và hiểu được m ột cách chu đáo.
Công việc đó quá sức một người hay một bọn ít người; vậy
chúng tôi rất hoan nghênh sự hợp tác của mọi người - Nho
học hay Tây học - cùng theo đuổi với chúng tôi một mục đích
là “làm sống lại” những đoạn Nam sử hiện nay nhiều người
đương sao nhãng.
Tạp chí Thanh Nghị
11
I.
ALEXANDRE DE RHODES
\ 9
Cố Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới
Trung kỳ năm 1624. Tháng Ba năm 1627 được cử
ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng Năm năm 1630
thì bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Cố
quay về Trung kỳ rỗi sang Áo Môn (Ma Cao bên
Tàu), đáu tháng Hai năm 1639 lại trở vê' Trung
kỳ. Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn, Công
Thượng vương^*\ cấm đạo, cố bị bắt và bị kết án
tử hình, nhưng không bị chém chỉ bị trục xuất ra
khỏi xứ (tháng Bảy năm 1645). Quyển Histoire du
Roỵaume de Tunquin trích dịch sau đây xuất bản
năm 1651 tại Lyon (Pháp) bằng tiếng Pháp.
<9
(1) Tức chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan), trị vì Đàng Trong từ 1635 - 1648.
(Toàn bộ chú thích không ghi Nguyên chú trong sách này đểu là chú thích cùa
nhóm sUu tẩm).
13
Lễ tịch điền về đời
Nội các tục được dân thành tâm theo ở Bắc có một tục
chính là tục hàng năm vào hồi đầu xuân thì theo để khai đất
và để khởi đầu việc cày bừa một cách long trọng. Cứ đầu năm,
tức là vào khoảng giữa hai tiết đông chí và xuân phân - theo
như lối ta tính thì vào tuần trăng non vào gần ngày mồng
năm tháng Hai dương lịch nhất, đến ngày các nhà toán số đã
chọn, thường thường vào mồng ba Tết, thì mọi người có chức
vụ, hay tước vỊ trong nghề võ hay văn, đều phải mặc lễ phục,
đeo ấn thụ vào cung để hộ tống vua ngự giá qua kinh thành ra
tới vùng nhà quê, theo nghi tiết tôi sẽ tả theo đây.
Quân lính gọi ở khắp trong nước về, dàn đi trước có thứ
tự và rất đông, vì họ đến mấy nghìn người, người nào cũng
đeo khí giới của đội mình, người thì cung tên, người thì
thương, giáo hay súng. Theo sau là các tướng và tất cả những
người quý phái, tùy theo chức phận, một phẩn cưỡi ngựa,
một phần cưỡi voi; ngựa và voi có tới hơn ba trăm con, đểu
đóng yên phủ bành sang trọng, đã dạy dỗ thuần thục.
Đại tướng thống lĩnh quân đội và là phó vương cầm
quyển trị nước, hiệu là chúa Thanh Đô vương^^* đi sau cùng
bọn quý tộc, ngồi trên một chiếc xe thấp thếp vàng, theo sau
có một con voi đóng bành lộng lẫy có người dắt, khi nào
chúa thích thì lại cưỡi và điểu khiển đủ mọi lối khiến cho
dân chúng vui thích ngắm nhìn tỏ vẻ kính cẩn và thán phục.
Đi bộ theo sau là một số đông vô kể, những ông nghè,
ông cử, ông tú mặc áo dải lụa hay gấm vóc màu tím thẫm,
mỗi người có thẻ bài chỉ rõ chức vụ và phẩm trật của mình.
(1)
Đẩu để của người dịch. Trong bài bao giờ cũng hết sức dịch theo đúng nguyên
văn vì thế có nhiẽu đoạn hơi khắc khổ và một vài điểu xét đoán sai của tác giả,
người dịch cũng vẫn để. (Nguyên chú)
(2) Tức Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1577 - 1657).
14
Sau cùng đến đức vua, ngồi trên một chiếc kiệu chói lọi
phủ một tấm rèm quý giá thêu kim tuyến và màu xanh, màu
ấy là màu riêng vua mới được dùng.
Theo hàng thứ và nghi trượng như thế, đức vua ra khỏi
hoàng cung vẫn gọi là Đền, chu vi rộng bằng một tỉnh lớn,
rồi qua những phố chính kinh thành, thường gọi là Kẻ Chợ,
mà chảy đến một nơi đồng rộng cách kinh thành chừng gẩn
một dặm; ở đó các quan đi hộ giá đến từ trước và dân chúng
đã đợi sẵn để đón vua. Đến nơi đức vua xuống kiệu và sau khi
đã khẫn nguyện và rót rượu tế trời. Ngài thân cầm lẫy cán một
chiếc cày có vẽ màu và chạm trổ rất đẹp, cày đất vài phút và mở
một luống trong cánh đồng, để dạy cho dân chúng biết rằng
từ đây phải làm lụng, bỏ sự an nhàn và chăm nom đồng áng.
Đức vua cày xong rỗi, thì chúa Trịnh là người quản trị
nước có thế lực rất lớn và có uy quyền trên hết cả thần dân,
tiến đến gần, vái vua, mình cúi rạp xuống tận đất. Rồi các
hoàng thân, các võ tướng và các quan cũng làm như vậy; sau
cùng thì đến lính và cả quần dân quỳ xuống mà tung hô vua.
Hàng năm về đầu xuân, đó là sự tôn kính, sự báo ơn long
trọng nhất của thần dân đối với vua.
(Chương III, trang 11 -13)
Đất kinh kỳ về đẩu thế kỷ XVII
Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân
cận khiếp sợ, là số dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyển
vua cai trị, cứ xem số người thường ở Kẻ Chợ là nơi vua lập
triều đình thì đủ biết. Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu nghìn
bộ^*', ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay
(1) Một bộ bằng năm thước, chỉ đơn vị đo chiểu dài thời xUa. Mỗi thước là khoảng
0,425m. 1 bộ = 2,125m, 6.000 bộ = 12.750m = 12,75km.
15
mười hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế
mà mỗi tháng hai kỳ - vào rằm, mồng một là ngày dân nghỉ
lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua lại khắp mọi phổ đến
nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào cũng
bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được
mấy bước đường.
Do đẫy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người
ta thường ước dân số kinh kỳ được một triệu người. Không
kể những điều khác, lại còn một điểu này làm cho ta thấy số
dân rất đông sống ở đây.
Người Bắc có tục án trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có
vị ngon, bao giờ họ cũng giắt theo vào thắt lưng một giỏ con
hay một bao đầy trầu cau, ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi
sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi người nhận lẫy một
miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong tỉnh kẻ
nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem
biếu lẫn nhau để tỏ tình thân mật; nhưng còn thường dân
vẫn ăn trầu mà không có kẻ hầu têm sẵn ở nhà, thì đã có tới
năm vạn hàng bán trẩu lẻ rải rắc khắp kinh thành. Vậy có thể
kết luận rằng số người mua đông không thể tính xuể được.
(Chương VII, trang 25 - 27)
Nhân dân và thuế má
... Trừ những người được nhà vua miễn sưu còn thì trai
tráng từ mười chín đến sáu mươi tuổi đều phải đóng thuế.
Chỉ có khác là dân ba tỉnh vẫn trung thành với nhà vua và
xưa không theo giặc, thì đóng một số tiền đem đổi sang tiến
ta vào độ hai đổng, mỗi đổng ăn sáu mươi xu (deux escus de
soixante sols pièce); còn dân bốn tỉnh đã bỏ vua theo giặc thì
16
mỗi người phải đóng nhiều gấp bốn, ấy là không kể mấy thứ
thuế vua đặt ra để trừng phạt sự phiến loạn của họ. Ngoài thứ
thuế thân này là thứ bọn phu thu nhẫn tâm bắt nộp không
trừ một li, không phân biệt kẻ nghèo, người giàu, người có
của hay kẻ chỉ làm lụng để độ thần^*\ còn một thứ thuế nữa
nhẹ hơn, đánh theo thồ sản, có tính cách một tặng vật do dân
tự ý đem cống hiến nhà vua hơn là một thứ thuế thật, tuy
rằng đến vụ thu, mỗi năm ba bốn lần, chả một ai dám tránh.
Vụ thứ nhất thu vào cuối năm hay đầu năm như biếu Tết. Vụ
thứ hai vào khi vua làm lễ “Vạn thọ” (sinh nhật). Vụ thứ ba
vào ngày húy (giỗ) tiên vương. Vụ thứ tư vào hồi có gạo quả
mới. Vì các vật cung tiến này không thu ngặt như thuế thân
nên dân mỗi tỉnh, mỗi làng góp của nhau vào chung, rồi cử
người xứng đáng nhất thay mặt đem tiến vua.
Hầu khắp những tỉnh, những xã trong nước - nhiều
không sao kể xiết được - nộp thuế thẳng cho vua hay cho
người thay mặt vua đứng ra thu, nhưng cũng có nhiều nơi
nộp cho các vương hầu tướng tá và binh lính hay cho những
người vua xét ra đáng thưởng và đã cấp cho vài nơi để hưởng
thuế lợi, hoặc là để khen tài đức họ, thưởng công họ, hoặc là
để lập thái ấp lúc họ mới sinh hoặc là để cấp dụng vào chức
vụ đã giao cho họ, hoặc để ban thưởng việc gì khác: theo lệ
trong nước thì quyển lợi vua đã ban cho một người, con cái
hay kẻ thừa kế không được thưởng nếu nhà vua không bằng
lòng cho lại. Mà ngay khi người ấy còn sống, vua cũng còn
quyển thu lại của đã ban cho, như thỉnh thoảng ta đã thấy;
tuy nhiên, chỉ khi nào để trừng phạt một tội lỗi gì nặng thì
vua mới dùng tới cách nghiêm ngặt ấy.
(Chương VIII, trang 28 - 30)
(1) Độ thẩn nghĩa như Độ nhật: sống lẩn hổi cho qua ngày.
17
Quân lính và tướng tá
Đức vua đã ban thành thị cho các tướng tá để đền công vê'
những nỗi vất vả của họ, thì ngài cũng cấp vài nơi cho những
lúih xuất sắc để họ có lương án và để thưởng lòng anh dũng
của họ: có khác là ngài thường cấp nhiều nơi cho một viên
tướng mà chỉ cấp một nơi cho nhiều tên lính; thành thử một
thị trấn không to tát gì nhiều khi cũng nuôi đủ binh lính cả
một chiếc chiến thuyền; ở nơi đã cấp cho mình, bọn lính có
quyền thu thuế dân vẫn nộp cho nhà vua.
Còn như đối với hạng lính không được trọng đãi như thế
thì thường thường, các tướng thay mặt vua trả lương cho họ;
một phẩn cũng vì những khoản chi phí ấy và để nuôi một số
lính, nên vua mới cấp cho những viên tướng nhiều thị trấn
để lấy thuế. Bởi vậy nên khi không có chiến tranh hay không
phải luyện tập, lính ăn lương của tướng hoàn toàn để tướng
sai khiến bắt hầu hạ mình làm công việc phu phen hay làm
mọi việc công ích, như đóng thuyền, hàn thuyền, xây sửa cầu
cống và những việc tương tự như thế, thành thử chả lúc nào
họ nhàn rỗi và không có việc làm.
Những tướng tá lưu trú ở kinh sáng nào cũng phải vào
hẩu vua và dự vào buổi chầu ngài thiết ở cung để cho dân
chúng có nguyện vọng gì thì dâng lên; khi đi chầu tướng nào
cũng có một ít bộ hạ đi dàn trước, có thứ tự, có khí giới và
mặc áo choàng màu tím thẫm; khi về, lính lại hộ vệ đến tận
nhà. Được phục dịch tướng như thế là một việc vinh dự,
quân cắt phiên nhau mà làm.
Khi vua ra ngoài điện hoặc để dạo chơi về thừa lâu^^^ tại
vùng thôn quê, hoặc để thử chiến thuyền mới sai đóng, hoặc
(1) Ihừa lâu: là những tòa nhà (hành cung) giống như những dịch trạm được
dựng lên trên đường vua đi vi hành để nghỉ ngơi.
18
để xem quân lính mỗi tháng hai kỳ tập bắn hay đánh vật, vì
các tướng có mặt tại triều đi tùy giá, nên quân lính bao giờ
cũng dự rất đông, bảnh bao trong những bộ áo hiệu như họ
thường mặc để đi dàn trước long giá khiến cho nghi trượng
có vẻ lộng lẫy.
Mỗi khi vua ngự về vùng thôn quê như kể trên đây, không
những chỉ có toán bộ binh uy phong này đi trước hộ giá mà
thôi, lại còn có cả một đội kỵ mã đã chọn lọc và hơn một trăm
cỗ tượng mình phủ gấm vóc trên có các vương phi, công chúa
và bọn nữ tỳ ngồi thảnh thơi trong những chiếc bành thấp
đóng chắc vào lưng voi, voi khỏe có thể mang tới sáu người
trong bành, ấy là chưa kể tên quản tượng cưỡi trên cổ.
Vì thế khi vua ra chứng kiến những cuộc tập binh hay
đánh vật, quân lính được khuyến lệ vô cùng vì ngoài đức vua
họ còn có số khán giả mỹ lệ, cao quý kia để tán thưởng sự
khéo léo và giỏi giang của họ.
Vê' việc đánh vật có điều này tôi không thể bỏ qua được:
bên nào đã bị bên địch nhanh tay hay lấy sức đánh ngã xuống
đất cũng chưa kể là thua, tuy bụng hay sườn đã chạm xuống
đất, có bị vật ngã ngửa vai sát đất thì mới thua hẳn.
(Chương IX, trang 31 -33)
Lễ tuyên thệ của binh lính
Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ
Bắc đông như thế, đặt dưới quyển lắm tướng như thế, hay hội
họp canh gác, xếp hàng ngũ hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng
thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những bữa khao, nhà vua
và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy họ
cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng
không bao giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.
19
... Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ
vốn lành, nhưng cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ
tôn kính và sùng bái vua và tướng. Họ gọi vua là thiên tử và
sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự trên trời xuống
để cai trị họ, vì thế trước mặt ngài, không bao giờ họ làm gì
khiến ngài thất ý hay phải tức giận. Sự sùng bái ẫy là căn bản
cái tục họ theo hàng năm như sau đây.
Vào quãng tháng Sáu nguyệt lịch*^^ - thường thường
vào tháng Tám của ta*^^ - vua ban một đạo dụ truyền cho
quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng trung thành
với vua... ở các công trường, ở các ngả đường chính trong
kinh thành người ta thiết lập những hương án bầy biện trang
hoàng vẫn để thờ thần: ở chính giữa hương án, đã biên lời
thề bằng chữ to, họ đứng dưới chân hương án cũng nom rõ;
hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải trăm nghìn thứ tai
nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và
lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều
hương án, mỗi hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy
đội lính, có một quan ván được cử ra thay vua để làm chủ lễ
và để sau khi đâ tuyên thệ rồi thì phát cho mỗi tên lính một
mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được nhận vào
làm lính nhà vua. Tướng từng đội lên trước, long trọng thể
giữ trung với nhà vua, rồi lần lượt đến quần lính, viên chủ
lễ phát cho mỗi tên một mảnh giấy biên chữ khác nhau, tùy
theo giọng nói lúc tên ấy tuyên thệ.
Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh
nghĩa là “rõ”. Ai nói nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa
“không rõ”. Còn lại nói giọng vừa phải thì được chữ thuận
nghĩa là “thường”. Những m ảnh giẫy ấy không phải là vô
giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ
(1) Tức âm lịch.
(2) Tức tháng 8 dương lịch.
20
tướng, (ô n g nào thể xong về ngay) thì được chủ tướng phát
cho một chiếc áo vua ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo
tốt và dài; ai có chữ thuận thì được áo ngắn hơn bằng vải
thường; ai phải chữ bất minh thì áo vải xấu và ngắn nữa.
Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được
người lính nào trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong
hàng ngũ của nhà vua.
(Chương X, trang 34 - 36)
Nền thương mại của xứ Đàng Ngoài
ở đẩu thế kỷ thứ XVII
Người xứ Bắc - gần như không thông thương gì với nước
ngoài vì ba lẽ chính.
Lẽ thứ nhất vì họ không biết dùng địa bàn, không thạo
nghề hàng hải; không bao giờ dám ra xa bờ hay núi quá tầm
mắt. Lẽ thứ hai thuyền họ không bền được với sóng, bão,
ván thuyền không đóng đinh, không có chốt mà chỉ có đai
buộc, mỗi năm là phải thay một lần. Lẽ thứ ba là vua không
cho dân ra nước ngoài, sợ rồi quen ở lại buôn bán làm thiệt
mất thuế của vua. Nhưng hàng năm, ngài cũng phái vài chiếc
thuyền buôn sang Cao Man, Xiêm La vì hai xứ này không
xa Đàng Ngoài là mấy và thuyền buôn cứ theo ven bờ mà đi
không phải ra khơi.
- Tuy nhiên không ra khỏi nước Nam, nước này gồm
có Đàng Ngoài và Đàng Trong, bọn lái buôn bản xứ nhờ có
thương cảng tiện lợi và nhiều nên buôn bán cũng lớn và lợi
lãi hàng năm gấp hai, gấp ba vốn mà không phải chịu những
sự bất trắc thường gặp trên mặt bể. Thật vậy, ở dọc bờ bể
nước Nam dài hơn ba trăm nám mươi dặm tây, ta đếm được
21
hơn năm mươi thương cảng, có nhiều sông con dồn nước vể,
và có thể chứa được mười, mười hai chiếc tầu lớn, thành ra ai
đi lại trên mặt bể, đêm đêm có thể rút vào đậu trong các bến
này không phải bỏ neo ở ngoài khơi và tránh được những tai
nạn không hiếm gì trên mặt biển.
Vê' các khách thương ngoại quốc thật ra thì từ hồi nào
người Nhật Bản, người Trung Hoa vẫn vào các bến nước
Nam, mua lụa và gỗ trầm hương.
Người Trung Hoa bây giờ vẫn còn buôn bán, và đem sang
những đồ sứ, vải, và nhiều thứ hàng giải trí và xa xỉ. Người
Nhật Bản trước kia đem nhiều tiền đến để mua lụa, và đem
nhiều thứ kiếm và các khí giới khác đến bán, đã hai mươi
nhăm năm nay không lai vãng nữa, vì được tin rằng tuy đã
có lệnh cấm đạo Gia-tô ở Nhật Bản từ nám 1614, trong gần
10 năm trời người Nhật theo đạo mỗi năm vào mùa...*^' và ba
bốn lần vào các dịp khác, vẫn lấy cớ là đi buôn rồi dùng hàng
ba bốn chiếc tàu sang nước [.. .]'^^
(1) Thiếu một chữ do bản gốc bị mờ.
(2) Bản gốc thiếu một đoạn.
22
s.
^9
II.
CRISTOPORO BORRI
Cố Cristoíoro Borri (1585 - 1632) là m ột cố
đạo người Ý sang Trung kỳ vào khoảng 1618 1621 (?); đến 1623 thì qua Goa**^ về Âu châu.
Quyển Relatione delỉa nuova missione deỉli
p.p. della Compagnia di Giesù al Regno della
Cocincina, xuất bản ở Rome bằng tiếng Ý năm
1631 là quyển sách in đầu tiên của Âu châu nói
về Trung kỳ. Sách có dịch ra tiếng Pháp (bản
của cố Antoine de la Croix in ở Lille năm 1631),
tiếng Hòa Lan, La Tinh, Đức, Anh. Tạp chí Revue
Indochinoise, năm 1908, có đem đăng lại bản dịch
của cố Antoine de la Croix (chúng tôi cũng dịch
đăng theo bản này).
Sách có hai phần. Phần trên nói vê' vị trí, khí
hậu, thổ sản, tài nguyên, chính trị, thương mại
của xứ Trung kỳ; dưới nói vê' việc truyền giáo.
Xin nhắc lại là chúng tôi chỉ mới trích dịch'^^
chưa phê bình chọn lọc.
Q)
ỉ
(0
(1) Một tiểu bang nhỏ nhất của Ấn Độ nằm ở phía Tầy. Tên gọi theo tiếng Konkani
là Gomya, tiếng Bồ Đào Nha là Goa.
(2) Bạn đọc có thể đọc trọn vẹn cuốn sách qua bản dịch Xứ Đàng Trong năm 1621
do Hổng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, Nxb. Tổng hợp
Thành phố Hổ Chí Minh tái bản, 2014, (lẫn dẫu in năm 1998).
23
Tính tình người Trung kỳ
Người Trung kỳ không khác người Trung Hoa vê' màu
da mặt, và người nào cũng sắc xanh nhạt, đây là nói những
người ở gần bể, bởi vì những người ở tận trong đất liền cho
tới đất xứ Bắc kỳ cũng trắng như người Âu châu.
Ngoài nét mặt, họ còn giống người Trung Hoa vì mũi tẹt,
mắt nhỏ; vê' vóc người thì họ tầm thước: tôi muốn nói là họ
không nhỏ bé như người Nhật Bản mà cũng không cao như
người Trung Hoa. Nhưng vê' sức lực và dáng người thì họ
vượt trên người Trung Hoa và người Nhật Bản; vê' can đảm
và tài năng, họ đứng trước người Trung Hoa, nhưng người
Nhật Bản hơn họ về một chỗ là khinh sự sống trong những
lúc gian nguy và chiến trận, vì không kể gì đến thân mình,
người Nhật không sợ chết bẫt cứ bằng cách nào.
Người Trung kỳ hiền lành và có lễ độ trong lúc nói chuyện
hơn các dân tộc khác ở Đông phương và họ coi sự giận dữ là
một điều ô nhục tuy họ rất tự cao. Các dân tộc Đông phương
coi người Âu châu như những quân phàm tục và tự nhiên
kinh sợ ta đến nỗi khi thuyên ta ghé vào đất họ, họ trốn tránh
cả. ở Trung kỳ thì trái hẳn lại: Dân Trung kỳ tranh nhau đến
gần ta, hỏi ta hàng nghìn câu, mời ta ăn với họ; nói tóm lại,
đối với ta, họ dùng đủ mọi điểu lịch sự, nhã nhặn, thân mật.
Tôi và các bạn đổng hành đã thấy như thế khi chúng tôi mới
vào xứ này lần đầu và người ta có thể nói là chúng tôi đến
giữa các bạn rất thân, biết nhau đã từ lâu...
"Vi bản tính họ rộng rãi và phong tục dễ dàng nên họ ở
với nhau rẫt có hòa khí, cư xử với nhau ngay thực và chân
thành như anh em ruột cùng sống, cùng ở trong một nhà
tuy họ chưa gặp nhau và biết nhau bao giờ. "Và họ coi là một
người đê hèn, nếu kẻ nào giữ lấy ăn một mình một thức gì dù
24
bé nhỏ vụn vặt đến đâu mà không đem chia cho kẻ khác mỗi
người một phần. Họ có thảo tâm hay bố thí cho kẻ nghèo,
chẳng bao giờ từ chối làm phúc cho ăn mày vì họ coi như đã
thiếu bổn phận nếu họ không cho, và lẽ công bằng bắt buộc
họ phải giúp đỡ.
Bởi thế nên một lần có mấy người ngoại quốc bị đắm tầu
bơi được vào một thương cảng Trung kỳ, không biết thổ ngữ
để có thể hỏi xin những thức cần dùng, chỉ phải học có mỗi
một tiếng: Doii, nghĩa là tôi đói. Bởi vì khi nghe thấy mấy
người ngoại quốc than như thế và đi qua cửa nhà họ kêu đói,
thì người Trung kỳ đua nhau ra ngõ, tỏ vẻ ái ngại và cho mẫy
người đó ă n ...
Nhưng người Trung kỳ rộng rãi và sẵn lòng cho nhanh
bao nhiêu thì khi ngó thấy cái gì là lạ và hiếm, lập tức họ ham
muốn và nói ngay: Scin mocaii (nghĩa là cho tôi xin một vật
kia). Và họ coi là một điều đại bất nhã nếu ta từ chối, không
cho họ một vật, dù hiếm, dù có giá, dù ta chỉ có một bản; kẻ
từ chối là một thằng bủn xỉn. Nên khi cẩn chỉ có thể: một là
đem giấu vật mình muốn giữ lại, hai là sẵn sàng cho kẻ đã
hỏi xin.
Một khách thương Bồ Đào Nha ý chừng không thích
cách hành động lạ lùng ấy - mấy người thích cho được - và
ngày nào cũng bị bực mình phải cho những vật đẹp mà họ
thấy anh ta cầm tay, một hôm có ý kiến là anh ta cũng xử
sự như họ. Định tâm thế, anh ta đến gần thuyền một chú
chài nghèo khổ, để tay lên một sọt đầy cá, nói theo tiếng bản
xứ Scin mocaii (cho tôi cái này); chú chài chẳng nói chẳng
rằng cho luôn anh ta cả sọt cá. Anh Bổ Đào Nha đem sọt cá
vể, không khỏi ngạc nhiên và lạ lùng vê' tính hào phóng của
người Trung kỳ. Thật ra thì sau này ái ngại cho chú chài, anh
ta có đem trả đúng số tiền chỗ cá ẫy.
25
Những tiếng dùng để nói chuyện, thường dùng trong
cuộc xã giao hay dùng trong các lễ nghi cũng tựa như người
Trung Hoa. Kẻ dưới rất kính cẩn với người trên; người ngang
hàng đối với nhau rất tương kính đúng mực, chúc tụng khen
ngợi nhau cũng tỉ mỉ như người Trung Hoa. Họ tôn trọng
đặc biệt các bậc lão thành: trong bất cứ việc gì, ở giai cấp
nào, trong trường hợp nào, họ cũng nhường người hơn tuổi
và để tuổi già được ưu đẳng đối với hạng thiếu niên. Vì thế
có mấy ôn...
 





